Michael J. Bustamante
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Vào năm 2014, sau khi chính quyền Obama và chính phủ Cuba công bố thỏa thuận khôi phục quan hệ ngoại giao, cả thế giới đã đổ dồn sự chú ý về Havana. Từ ban nhạc Rolling Stones cho đến các nhà đầu tư tiềm năng, tất cả đều vội vã tìm kiếm một vị thế tại hòn đảo này trong tương lai. Raúl Castro, người giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng lâu năm, đã tiếp quản quyền lực từ người anh trai đang lâm bệnh Fidel vài năm trước đó và triển khai những cải cách kinh tế vừa phải: cho phép nhiều doanh nghiệp tư nhân nhỏ hoạt động hơn, nới lỏng các quy định về đầu tư nước ngoài và cắt giảm biên chế nhà nước. Sự kết hợp giữa việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ và quá trình actualización (hay “hiện đại hóa” – một uyển ngữ ưa thích của Đảng Cộng sản Cuba) dường như đã sẵn sàng để đưa hòn đảo này bước vào thế kỷ 21.
Đáng tiếc thay, Cuba đã không đạt được những kỳ vọng đó. Trong 5 năm qua, hơn một triệu người, chiếm hơn 1/10 dân số Cuba, đã rời bỏ đất nước, phần lớn là đến Mỹ. Ngày nay, dưới thời Chủ tịch Miguel Díaz-Canel, hòn đảo này đang trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất kể từ khi Liên Xô sụp đổ. GDP đã giảm 11% kể từ năm 2020. Mạng lưới điện đang dần sụp đổ. Lực lượng an ninh trấn áp gay gắt các cuộc biểu tình chống chính phủ. Vào tháng 10, cơn bão Melissa đã tàn phá miền Đông hòn đảo, làm hư hại hoặc phá hủy khoảng 90.000 ngôi nhà và 101.171 hecta đất canh tác. Hiện nay, đợt bùng phát dịch sốt xuất huyết và các loại virus do muỗi truyền khác đã đạt đến mức độ đại dịch.
Thảm kịch đang diễn ra tại Cuba một phần là kết quả của những cú sốc từ bên ngoài, chẳng hạn như cuộc bầu cử năm 2016 của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Sau khi nhậm chức, Trump đã khôi phục nhiều lệnh trừng phạt mà người tiền nhiệm đã dỡ bỏ. Ví dụ, từ năm 2019 đến năm 2020, ông đã hạn chế gắt gao các chuyến bay, kiều hối và hoạt động du lịch đến hòn đảo này. Đến năm 2021, ông đưa Cuba vào lại danh sách các quốc gia tài trợ khủng bố, chủ yếu vì chứa chấp một số đối tượng lẩn trốn tòa án Mỹ. Tổng thống Joe Biden chỉ nới lỏng một phần các hạn chế này, và Trump đã khôi phục một số trong số đó trong nhiệm kỳ thứ hai của mình. Trong khi đó, đại dịch COVID-19 đã phát nát ngành du lịch của hòn đảo. Và khi chính quyền Trump thứ hai tăng cường chiến dịch gây sức ép ngày càng gay gắt nhằm lật đổ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro, sự sụt giảm vốn đã mạnh mẽ trong viện trợ dầu mỏ từ Caracas đến Havana trong những năm gần đây có nguy cơ trở nên tồi tệ hơn, khiến Cuba đối mặt với rủi ro mất đi đối tác kinh tế và địa chính trị quan trọng nhất.
Nhưng tình trạng khẩn cấp hiện tại cũng là một mớ hỗn độn do chính phủ Cuba tạo ra. Bất chấp những cải cách của Raúl, chính quyền vẫn không sẵn lòng đoạn tuyệt dứt khoát với mô hình kế hoạch hóa tập trung cứng nhắc của đất nước. Việc mở rộng khu vực tư nhân diễn ra không liên tục, và chính sách tiền tệ sai lầm đã góp phần gây ra lạm phát nghiêm trọng. Chính phủ cũng có ác cảm với bất kỳ thay đổi có ý nghĩa nào đối với hệ thống độc đảng. Kết quả là nền kinh tế hòn đảo vẫn mong manh và cứng nhắc, và sự hào hứng trước đây của Washington đối với việc can dự sâu hơn với Havana đã được thay thế bằng sự hoài nghi, thù địch hoặc thờ ơ.
Thật khó để hy vọng vào tương lai của Cuba. Raúl, người đã 94 tuổi và vẫn đóng vai trò là vị cố vấn quyền lực, sẽ sớm qua đời, cùng với những người cuối cùng của thế hệ đã tạo nên Cách mạng Cuba năm 1959. Nhưng để thoát khỏi vũng lầy hiện tại, một thế hệ lãnh đạo mới sẽ phải cam kết nghiêm túc, ở mức tối thiểu, đối với việc tự do hóa kinh tế sâu rộng hơn – dù điều đó có thể khó chấp nhận trong ngắn hạn. Để đưa đất nước đi đúng hướng, họ cũng cần phải dân chủ hóa. Thật đáng buồn, sau một thập kỷ sửa đổi chính sách, ban lãnh đạo hiện tại của Cuba đã đưa ra rất ít dấu hiệu cho thấy họ sẵn sàng đối mặt trực diện với các thách thức hoặc nhượng lại quyền kiểm soát cho những người có khả năng.
Cải cách quá ít và quá muộn
“Chúng ta cải cách hoặc là chìm”, Raúl tuyên bố vào năm 2010, bốn năm sau khi tiếp quản quyền lực. Hệ thống xã hội chủ nghĩa của Cuba đã tồn tại qua giai đoạn ngay sau thời kỳ hậu Liên Xô, khi viện trợ cho hòn đảo giảm mạnh và GDP thu hẹp mất một phần ba. Nhưng Cuba chỉ phục hồi được một phần từ sự suy giảm đó. Để đặt nền kinh tế lên một bệ đỡ vững chắc hơn, Raúl đã vạch ra một kế hoạch đơn giản: thu hẹp bộ máy nhà nước cồng kềnh bằng cách sa thải nửa triệu công chức, đồng thời mở rộng khu vực tư nhân nhỏ bé gồm những người “tự kinh doanh” điều hành các nhà hàng, nhà cho khách du lịch thuê và các doanh nghiệp nhỏ khác. Nhà chức trách cho phép các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ cổ phần đa số trong các liên doanh, và nhà nước sẽ chuyển giao những vùng đất công bỏ hoang cho những nông dân tư nhân để giải quyết sự phụ thuộc của đất nước vào hàng nhập khẩu vốn chiếm 70% lương thực cả nước.
Các nhà kinh tế giỏi nhất của Cuba đã nhanh chóng chỉ ra những khiếm khuyết trong kế hoạch này. Danh sách hơn 200 hoạt động được phép tự kinh doanh bị quản lý một cách tỉ mỉ đến mức nực cười. Chẳng hạn, canh tác một mảnh đất công và bán phần lớn thu hoạch trong hệ thống định mức kiểm soát giá không giống với việc sở hữu tài sản và bán nông sản theo giá thị trường. Và các công ty nhà nước vẫn duy trì được lợi thế không công bằng khi cho phép cào bằng giá trị giữa đồng peso và USD, cơ chế đã giúp họ thổi phồng giá trị tài sản một cách giả tạo và hưởng lợi từ nguồn hàng nhập khẩu giá rẻ. Ngược lại, người dân phải bán peso cho các ngân hàng nhà nước Cuba để đổi lấy USD với tỷ giá 24:1. Tuy nhiên, nhiều người vẫn lạc quan. Đến thăm Cuba trong những năm này là để cảm nhận luồng gió thay đổi khi các doanh nghiệp nhỏ mở cửa, khách du lịch từ Canada và Châu Âu nườm nượp kéo đến, và không gian cho báo chí độc lập, phân tích học thuật và tranh luận dân sự được mở rộng.
Tổng thống Mỹ Barack Obama đã chú ý đến điều này. Ngay cả trước khi có bước đột phá bình thường hóa vào cuối năm 2014, chính quyền của ông đã cho phép người Mỹ đi du lịch theo nhóm đến hòn đảo nếu họ mong muốn “hỗ trợ người dân Cuba”. Các thành viên của cộng đồng người Cuba ở hải ngoại đã về thăm gia đình và mang về hàng triệu USD kiều hối, cung cấp vốn mồi cho các doanh nghiệp nhỏ. Sau khi hai nước chính thức khôi phục quan hệ, các hãng hàng không đã thiết lập các chuyến bay thương mại trực tiếp. Các chuyến du thuyền, các chuyến thăm tự túc và các ngoại lệ đầu tư nước ngoài mới đối với lệnh cấm vận thương mại Mỹ-Cuba kéo dài đã xuất hiện. Năm 2016, hơn 580.000 người mang hộ chiếu Mỹ và Cuba (nói cách khác là người Mỹ gốc Cuba) đã lên các chuyến bay hướng tới hòn đảo này chỉ tính riêng từ Sân bay Quốc tế Miami.
Tuy nhiên, bất chấp tất cả sự hồ hởi, rõ ràng là Havana đã không chuẩn bị sẵn sàng để nắm bắt thời cơ. Các nhà đầu tư Mỹ thấy rằng chính quyền Cuba vẫn bám chặt vào các dự án đã được phê duyệt từ trước, dẫn đến rất ít các giao dịch thương mại có tầm quan trọng. Những người theo đường lối cứng rắn trong chính phủ Cuba bất bình trước những lời lẽ đầy hy vọng của Obama, coi đó là một “con ngựa thành Troy” sẽ mang lại những thay đổi chính trị không mong muốn. Những lời kêu gọi cải cách thị trường sâu rộng hơn đã không được lắng nghe vì các lãnh đạo đảng lo sợ việc giải phóng các lực lượng kinh tế mà họ không thể kiểm soát.
Đã tệ nay còn tệ hơn
Do sự thiển cận của Cuba, sau cuộc bầu cử năm 2016 tại Mỹ, không có lý do nào ngăn cản chính quyền Trump đảo ngược tiến trình. Và quả thật, sáu tháng sau nhiệm kỳ đầu tiên, Trump tuyên bố rằng ông sẽ “hủy bỏ” thỏa thuận “Cuba một chiều” của Obama. Các con tàu du lịch chở các nhóm du khách Mỹ vẫn tiếp tục cập các bến tàu Cuba, nhưng chính quyền Trump đã cấm người Mỹ thực hiện các chuyến đi tự túc hoặc lưu trú tại nhiều khách sạn do quân đội sở hữu ở Cuba. Ngay sau đó, các hãng thông tấn bắt đầu đưa tin về những sự cố sức khỏe bí ẩn ảnh hưởng đến các nhà ngoại giao Mỹ trên hòn đảo, được gọi là “hội chứng Havana”. Đáp lại, Washington đã đóng cửa lãnh sự quán Mỹ và đình chỉ hoạt động di cư hợp pháp của người Cuba sang Mỹ.
Năm 2019, chính sách của Mỹ đã chuyển sang một hướng trừng phạt thậm chí còn gay gắt hơn. Năm đó, Trump đã xóa bỏ giấy phép chung cho các chuyến du lịch nhóm “giao lưu nhân dân” (people-to-people) vốn là động lực cho các chuyến thăm còn lại của người Mỹ đến hòn đảo và giới hạn kiều hối của người Mỹ gốc Cuba ở mức 1.000 USD mỗi quý. Chính quyền của ông cũng kích hoạt Điều 3 vốn đã bị đình chỉ từ lâu của Đạo luật Helms-Burton năm 1996, cho phép công dân Mỹ kiện các công ty trong và ngoài nước Mỹ với cáo buộc hành vi “trục lợi” trên những tài sản mà chính phủ Cuba đã tịch thu từ đầu thập niên 1960, điều này có tác dụng làm giảm ngay lập tức dòng vốn đầu tư nước ngoài vào hòn đảo. Đầu năm 2020, Nhà Trắng đã cấm các chuyến bay đến hoặc đi từ các thành phố Cuba ngoài Havana, và ngăn chặn công ty dịch vụ tài chính Western Union của Mỹ hợp tác với một thực thể tài chínhthuộc sở hữu của quân đội Cuba để chuyển tiền kiều hối. Bất chấp những hậu quả nhân đạo, các quan chức đã gọi những biện pháp này là một phần của chiến dịch “áp lực tối đa” đối với cả Cuba và Venezuela. Chiến dịch đó bao gồm cả các lệnh trừng phạt đối với hoạt động vận chuyển dầu của Venezuela – khiến nguồn cung năng lượng quan trọng cho hòn đảo bị siết chặt.
Sai đó đại dịch ập đến. Ngành du lịch gần như xóa sổ, kéo theo GDP của Cuba lao dốc tới 10%. Đây là “bài thử lửa” thực sự đối với Díaz-Canel, nhà lãnh đạo đầu tiên không thuộc dòng họ Castro, người được Raúl chọn mặt gửi vàng làm người kế vị vào năm 2018. Thế nhưng, thay vì nới lỏng, Díaz-Canel lại phản ứng trước những khó khăn bủa vây bằng cách thắt chặt hơn nữa quyền kiểm soát kinh tế của nhà nước, điển hình là việc đình chỉ cấp phép tự kinh doanh mới trong hơn một năm trời. Khi nguồn thu ngoại tệ mạnh dần cạn kiệt, chính phủ của ông tìm cách thu gom kiều hối bằng cách mở hệ thống cửa hàng quốc doanh bán hàng nhập khẩu thông qua một loại tiền kỹ thuật số mới — gọi là đồng “Ngoại tệ chuyển đổi tự do” (MLC) — được neo theo giá trị đồng đô la Mỹ. Nhưng trên thực tế, loại tiền này chẳng có chút khả năng chuyển đổi tự do nào. Những đồng đô la một khi đã nộp vào tài khoản MLC thì không thể rút ra được, điều này càng khiến thị trường tiền tệ của Cuba phân mảnh trầm trọng.
Díaz-Canel và những người thân cận cuối cùng đã nhận ra rằng cách tiếp cận này không hiệu quả. Và vào mùa hè năm 2020, họ đã công bố một chiến lược mới để xử lý tình trạng khẩn cấp kinh tế đang leo thang. Thay vì áp dụng một danh sách hẹp các hoạt động khu vực tư nhân được phép làm, chính quyền đã chuyển sang một danh sách các hoạt động bị cấm, các hoạt động ngoài danh sách cấm đều được phép làm. Chính phủ cũng cam kết hợp pháp hóa các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ, vượt ra ngoài khuôn khổ “tự kinh doanh”. Cuối cùng, nhà chức trách đã đồng ý thống nhất nhiều loại tiền tệ và tỷ giá hối đoái của hòn đảo. Các tỷ giá hối đoái riêng biệt cho người dân thuộc khối tư nhân và các công ty nhà nước đã giúp bảo vệ nhà nước khỏi cú sốc của cuộc khủng hoảng hậu Liên Xô, nhưng chúng cũng gây ra nhữngméo mó nghiêm trọng trong hạch toán của các công ty công, làm trầm trọng thêm sự phụ thuộc vào nhập khẩu theo thời gian.
Tuy nhiên, cách thức triển khai và trình tự thực hiện các cải cách này đã dẫn đến một kết cục thảm hại. Thay vì mở rộng khu vực tư nhân làm đòn bẩy trước, chính quyền lại đơn phương tung ra kế hoạch “tái cơ cấu tiền tệ”, áp mức tỷ giá thống nhất cho toàn bộ nền kinh tế là 24 peso đổi 1 USD vào đầu năm 2021. Với các doanh nghiệp nhà nước vốn đang quen hoạt động ở tỷ giá ưu đãi 1 đổi 1, đợt phá giá này đã đẩy chi phí hàng nhập khẩu tăng vọt. Việc đồng thời tăng lương trong khu vực công càng đổ thêm dầu vào lửa lạm phát, tạo ra tình trạng thừa tiền nhưng dư hàng. Mọi chuyện còn tồi tệ hơn khi nhà nước cho in tiền vô tội vạ để bù đắp thâm hụt ngân sách đang leo thang. Song song đó, chính phủ vẫn tiếp tục bán hàng nhập khẩu bằng loại tiền kỹ thuật số neo theo đồng đô la, điều không chỉ tự phủ nhận logic của việc thống nhất tiền tệ mà còn khiến cơn khát đồng đô la trở nên trầm trọng trong khi kho dự trữ đã cạn kiệt. Hệ quả là thị trường đen bùng nổ, đến cuối năm 2021, giá trị đồng peso đã bốc hơi 75%, chạm mức 100 peso đổi 1 USD, dù tỷ giá chính thức vẫn đóng băng ở mức 24:1.
Kết quả là một cuộc khủng hoảng về tính chính danh chính trị của nhà nước ngày càng gia tăng. Điều này thể hiện rõ nhất khi vận may của Cuba trước COVID-19 kết thúc vào mùa hè năm 2021, và biến thể Delta của virus đã quét sạch đất nước. Những hình ảnh về các bệnh viện sụp đổ và các thi thể tràn lan trên mạng xã hội. Được thúc đẩy bởi bài hát phản kháng gây bão “Patria y Vida” (“Tổ quốc và Sự sống”) của các nghệ sĩ hip-hop và reggaetón nổi tiếng cùng sức mạnh của livestream, người dân Cuba ở hơn 50 thành phố và thị trấn đã xuống đường vào ngày 11 tháng 7 năm 2021, yêu cầu lương thực, thuốc men và tự do. Chính phủ đã phản ứng ngay trong ngày hôm đó bằng sự trấn áp, tống những người biểu tình vào tù hoặc buộc họ trở về nhà. Hơn một nghìn người cuối cùng đã bị bắt giữ, và hàng trăm người bị kết án tù dài hạn vì các tội danh như phá hoại, gây rối trật tự công cộng và nổi loạn.
Một bước tiến, hai bước lùi
Trong 7 tháng đầu nhiệm kỳ, chính quyền Biden đã phớt lờ Cuba, vẫn giữ nguyên các lệnh trừng phạt của Trump. Nhưng các cuộc biểu tình và hậu quả của chúng đã buộc Washington phải chú ý. Ba tháng sau các cuộc biểu tình, Cuba đã dỡ bỏ các hạn chế đi lại cuối cùng do COVID để tái khởi động du lịch. Sau đó, Nicaragua, một đồng minh thân cận của Havana, đã cho phép người dân Cuba nhập cảnh miễn thị thực, cung cấp một con đường ngắn hơn, dù vẫn nguy hiểm, đến biên giới Mỹ-Mexico. Các chuyến bay đến Managua sớm vượt quá 2.000 USD, nhưng điều đó không thể ngăn cản người dân Cuba tháo chạy sang Mỹ. Cuba dường như đang cố tình xuất khẩu sự bất mãn, từ đó gây ra những cơn đau đầu chính trị cho Washington. Chính quyền Biden đã phản ứng bằng cách khôi phục việc xử lý kiều hối, nối lại các chuyến bay đến các thành phố tỉnh lỵ của Cuba (vốn chủ yếu được cộng đồng hải ngoại sử dụng), và mở lại các con đường di cư hợp pháp đã có sẵn cũng như tạo ra những con đường mới – tất cả nhằm nỗ lực khôi phục một phần ổn định kinh tế và làm chậm làn sóng di cư. Nhưng những nỗ lực này đã thất bại. Tính đến mùa thu năm 2024, hơn 850.000 người Cuba đã nhập cảnh vào Mỹ, bao gồm cả thông qua một chương trình “giấy phép tạm thông hành” mới mà chính quyền Biden đã tạo ra.
Đồng thời, chính phủ Cuba cũng đang thực hiện một nỗ lực mới để cứu vãn nền kinh tế. Vào cuối năm 2021, nhà chức trách cuối cùng đã hợp pháp hóa các doanh nghiệp tư nhân có tới 100 nhân viên. Trong ba năm, hơn 10.000 doanh nghiệp như vậy đã được phê duyệt. Và lần đầu tiên kể từ những năm đầu của Cách mạng Cuba, họ nhận được sự cho phép nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài, mặc dù phải thông qua các trung gian nhà nước. Các doanh nhân đã xây dựng được các mối quan hệ quốc tế và cộng đồng hải ngoại trong thời kỳ Obama đã mở các cửa hàng thực phẩm tư nhân. Những người khác nhập khẩu bán buôn từ Mexico, Panama hoặc thậm chí là Mỹ. Các công ty chuỗi cung ứng như Supermarket23 đã cung cấp cho người dân Cuba ở nước ngoài một nền tảng trực tuyến giống như Amazon để mua hàng hóa cho gia đình họ từ những nhà nhập khẩu địa phương, cũng như kho bãi và hậu cần tại chỗ, tạo điều kiện cho việc giao hàng tận nhà. Tất cả những điều này từng là không thể tưởng tượng được. Đến cuối năm 2024, khu vực tư nhân chiếm 23% biên lai thuế, 31% lực lượng lao động và hơn một nửa doanh số bán lẻ, vượt xa các doanh nghiệp nhà nước.
Nhưng nhiều vấn đề đang bủa vây lĩnh vực này. Một là sự thiếu hụt một thị trường hối đoái ổn định hoặc bất kỳ cách thức hợp pháp nào khác để chuyển ngoại tệ ra nước ngoài. Điều này buộc các công ty tư nhân phải tham gia thị trường tiền tệ phi chính thức, đẩy đồng peso xuống mức thấp mới: hơn 400 peso đổi một USD ở thời điểm hiện tại. Tỷ giá hối đoái này đã khiến nhiều mặt hàng vượt quá tầm với của nhiều người dân Cuba, những người vẫn phụ thuộc vào lương hưu hoặc tiền lương nhà nước và ít có cơ hội tiếp cận kiều hối. Kết quả là, mặc dù các doanh nghiệp tư nhân mới đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các nhu yếu phẩm cơ bản cho các gia đình Cuba trong vài năm qua, họ lại trở thành gương mặt công khai của tình trạng bất bình đẳng ngày càng tăng – một thách thức chính trị đối với một nhà nước vẫn tự nhận là xã hội chủ nghĩa.
Và ngay cả việc tư nhân hóa hạn chế này cũng đối mặt với những bước lùi. Trong hai năm qua, chính phủ đã áp đặt các hạn chế giao dịch ngân hàng mới, xóa bỏ các ưu đãi thuế cho các công ty mới và tạm thời hạn chế các hoạt động bán buôn. Chủ sở hữu công ty hoặc đối tác hiện phải cư trú tại Cuba hầu hết thời gian trong năm, hạn chế sự tham gia hợp pháp của cộng đồng người Cuba ở hải ngoại, vốn là nguồn vốn mồi, bí quyết kỹ thuật và khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính không bị trừng phạt chủ yếu từ trước đến nay. Các nhà quan sát diễn giải những động thái này là một nỗ lực của tập đoàn kinh doanh của quân đội, Grupo de Administración Empresarial S.A. (GAESA), nhằm giành lại thị phần trong việc bán các mặt hàng ngoại nhập được nâng giá, vốn là lĩnh vực mà họ đã thống trị trước đại dịch. Nhà chức trách vẫn khẳng định rằng các công ty tư nhân nên là “các tác nhân bổ sung” cho nền kinh tế, không phải là động lực, ngay cả khi hàng chục công ty nhà nước đang hoạt động thua lỗ.
Sự suy tàn cuối cùng?
Các vấn đề dồn dập của Cuba hiện nghiêm trọng đến mức ngay cả một khu vực tư nhân năng động hơn cũng sẽ không đủ để khắc phục chúng. Tình trạng mất điện toàn quốc vào tháng 9 là lần thứ năm trong một năm. Việc đại tu mạng lưới điện lạc hậu, phụ thuộc vào dầu mỏ sẽ tiêu tốn hàng tỷ USD mà chính phủ không có và không quốc gia nào sẵn lòng cho vay. Những tác động đến năng suất rất thảm khốc. Cuba gần đây đã thừa nhận rằng sản lượng trong nông nghiệp, chăn nuôi và khai thác mỏ đã giảm 53% kể từ năm 2019. Tuy nhiên, trong thập kỷ qua, ngân sách đầu tư của nhà nước đã đổ vào các khách sạn và cơ sở du lịch (cũng do GAESA thống trị) nhiều hơn bất kỳ lĩnh vực nào khác, bất chấp thực tế là lượng du khách chỉ bằng một nửa so với mức đỉnh điểm trước đại dịch. Các loại khách du lịch đang lựa chọn các điểm đến khác ở Caribe ít bị mất điện hơn. Khách du lịch Châu Âu đang chọn những nơikhông làm nguy hại đến chương trình miễn thị thực 90 ngày thông thường của họ vào Mỹ (một rủi ro bắt nguồn từ việc Cuba nằm trong danh sách các quốc gia tài trợ khủng bố).
Để khắc phục – hoặc né tránh – những vấn đề này, một số quan chức Cuba có thể đang trông chờ vào các mối quan hệ quốc tế tốt đẹp hơn. Họ có khả năng sẽ phải thất vọng. Chờ đợi Washington thay đổi hướng đi là một việc làm vô ích: một Cuba kiệt quệ, không giống như Venezuela giàu dầu mỏ, mang lại rất ít lợi ích chiến lược cho một nước Mỹ ngày càng thực dụng. Nhưng ngay cả Moscow và Bắc Kinh cũng sẽ chỉ giúp ích được một phần hạn chế. Các quan chức và phái đoàn doanh nghiệp Nga đã hứa đầu tư 1 tỷ USD vào Cuba cho đến năm 2030, và người Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng vài chục trang trại điện mặt trời. Nhưng Havana chỉ có thể nhận được bấy nhiêu sự hỗ trợ từ hai quốc gia này. Việc những cam kết này được thực hiện nhanh chóng đến mức nào vẫn chưa rõ ràng, và cả Moscow lẫn Bắc Kinh đều thúc giục Cuba cắt giảm trợ cấp cho các công ty nhà nước không có lãi và giảm các hạn chếđối với đầu tư nước ngoài và khu vực tư nhân. Trong khi đó, Cuba tiếp tục thâm hụt thương mại khổng lồ với cả hai quốc gia này và thường xuyên yêu cầu tái cơ cấu các khoản nợ, vốn được cho là lên tới hàng tỷ USD trong trường hợp của Trung Quốc. (Nga đã xóa hầu hết các khoản nợ từ thời Liên Xô của hòn đảo vào năm 2014, nhưng Cuba được cho là đã tích lũy thêm hàng trăm triệu tiền nợ kể từ đó). Các động cơ địa chính trị và mối liên kết an ninh có nghĩa là Moscow và Bắc Kinh sẵn sàng cung cấp viện trợ định kỳ và giúp chính phủ Cuba tồn tại, nhưng cả hai đều không muốn tài trợ hoàn toàn cho một mô hình kinh tế mà họ coi là đã thất bại.
Mối quan hệ của Havana với Caracas thậm chí còn dễ bị tổn thương hơn. Chính quyền Trump đã triển khai các khí tài quân sự đáng kể ngoài khơi bờ biển Venezuela, thực hiện các cuộc tấn công gây tranh cãi vào các tàu bị cáo buộc buôn lậu ma túy và ít nhất một cơ sở cảng, đồng thời ra lệnh phong tỏa hải quân đối với các chuyến hàng dầu bị trừng phạt, bao gồm cả những chuyến hàng hướng về Cuba. Nếu chính quyền Maduro sụp đổ — dù khả năng này vẫn còn bỏ ngỏ — Cuba sẽ mất sạch những gì còn sót lại từ mối quan hệ bảo trợ kéo dài suốt 25 năm qua.
2 nhận xét:
Cuba không tuyên chiến với Venezuela.
Mỹ không tuyên chiến với Venezuela.
Liên Hợp Quốc cũng chưa từng thông qua bất kỳ nghị quyết nào cho phép can thiệp quân sự tại quốc gia này.
Vậy thì cái gọi là “chiến sĩ Cuba hy sinh trên đất Venezuela” thực chất là hy sinh cho điều gì?
Theo luật pháp quốc tế, trong điều kiện không tồn tại một cuộc chiến tranh hợp pháp, những cái chết ấy không thể gọi là liệt sĩ, cũng không thể được tôn vinh như những anh hùng bảo vệ Tổ quốc. Đó là các quân nhân tham gia một sự can dự quân sự theo thỏa thuận chính trị song phương, thiếu minh bạch và được che phủ bằng ngôn ngữ ý thức hệ.
Nói thẳng: họ không hy sinh cho nhân dân Cuba, càng không phải cho nhân dân Venezuela. Họ hy sinh cho sự tồn tại của chính quyền Maduro, cho một liên minh chính trị đang cạn sinh lực nhưng vẫn cần biểu tượng để duy trì.
Bi kịch ở đây là người lính nghèo chết cho những quyết định được đưa ra trong các phòng quyền lực, nơi họ không có mặt và cũng không có tiếng nói.
Trong khi đó, Cuba hôm nay là một đất nước thiếu điện, thiếu xăng, thiếu lương thực; người dân xếp hàng mua bánh mì, chịu cúp điện luân phiên như một trạng thái “bình thường mới”. Trong bối cảnh ấy, việc giới lãnh đạo Cuba vẫn tuyên bố sẵn sàng “bảo vệ chủ quyền Venezuela bằng sức mạnh” buộc người ta phải đặt câu hỏi: sức mạnh nào? Sức mạnh quân sự độc lập không có, sức mạnh kinh tế không có, và ngay cả sức mạnh lòng dân cũng đang hao mòn.
Điều đáng buồn không phải là Cuba nghèo. Nghèo chưa bao giờ là tội. Điều đáng buồn là Cuba vẫn tiếp tục diễn vai “chiến binh cách mạng”, trong khi sân khấu lịch sử đã dọn từ hơn ba thập kỷ trước và khán giả đã lặng lẽ bỏ về.
Nhân dân Cuba không đáng bị đồng nhất với các quyết định đó. Người lính Cuba chết không đáng bị khinh miệt. Nhưng việc khoác cho họ danh xưng anh hùng để hợp thức hóa một chính sách đối ngoại tuyệt vọng là sự xúc phạm sự thật.
Và khi sự thật bị hi sinh lần nữa dưới mỹ từ “cách mạng”, thì những cái chết ấy không còn là bi kịch cá nhân, mà trở thành bằng chứng cho sự cạn kiệt của một mô hình đã hết thời.
“Chiến sĩ Cuba bỏ mìinh tại Venezuela” – cần gọi đúng tên !
Nhiều người nhắn tin cho em hỏi là: nhân tiện Mỹ nuốt Venezuela thì Mỹ lật luôn Cuba cho sớm chợ.
Ấy không , nếu em là Tổng thống Mỹ, em phải bảo tồn bằng được Cuba, cứ 10 năm 1 lần, em sẽ tổ chức mít tinh vinh danh sự nghèo đói bền vững của Cuba, đấy mới là cao cờ : ăn cướp tiền và chống lại Mỹ đế thì muôn đời khổ.
Mỹ nó nhìn thấy được thì cỡ như em với các cụ có là gì ? Mỹ biết Cuba trong 30 năm qua, sống bằng gì và sống nhờ vào ai.
Venezuela từng tưởng mình là anh hùng cứu thế của phong trào cánh tả Mỹ Latinh. Có dầu trong tay, có tiền trong két, có ảo tưởng trong đầu. Hugo Chavez nhìn sang Cuba, thấy Fidel Castro già nhưng mồm còn khỏe, liền nảy ra một thiên tài chiến lược: "bố mày có dầu, còn mày thì có khẩu hiệu, hợp lại là thành cách mạng thế kỷ."
Thế là dầu bơm sang Cuba đều như truyền dịch, không cần hỏi giá, không cần đòi hạn trả. Cuba nghiễm nhiên trở thành con nuôi số 1, ăn trên ngồi trốc, sống bằng xăng của người khác nhưng Cuba và báo chí cách mạng ở Đông Lào vẫn giảng đạo đức Cuba là tự lực tự cường cho thiên hạ nghe.
Cuba thì quá quen với kiểu ăn bám này rồi. Trước bú Liên Xô, sau bú Venezuela. Bú rất tự nhiên, rất đạo mạo. Miệng nói chống đế quốc, tay chìa can xăng. Cách mạng Cuba vận hành bằng một công thức đơn giản: không cần sản xuất, không cần cải cách, chỉ cần tìm được "ông bố" mới có tiền nuôi. Dân đói? Kệ mẹ chúng mày, miễn là lãnh đạo có điện, có xe, có đảo nghỉ dưỡng, có thời gian ngồi giảng đạo lý về sự hy sinh.
Rồi đến lượt Venezuela ngã. Giá dầu sập, quản lý ngu, tham nhũng tràn lan, nhà nước biến thành cái máy đốt tiền. Tới thời Maduro, cái bình dầu không còn đầy nữa. Mà hài ở chỗ Venezuela còn chưa đủ xăng cho dân mình, vẫn cố giữ vai "anh cả cách mạng" , trong khi dân xếp hàng mua bánh mì. Còn Cuba thì đứng nhìn, mặt ngơ ngác như đứa con quen được chu cấp, tự nhiên tháng này bố gửi ít tiền hơn.
Đến năm 2023 ,dầu giảm, Cuba tắt đèn. Tắt rất nhanh. Tắt rất thật. Chủ nghĩa xã hội phiên bản Caribe chạy bằng máy phát điện, mà máy phát thì cần xăng. Không xăng là lộ nguyên hình, kinh tế không tự đứng được, xã hội không nuôi được, nhà nước chỉ còn lại đúng mỗi loa phường . Và như mọi khi, khi mọi thứ sụp đổ , Mỹ được gọi tên. Mỹ lúc nào cũng rảnh để chịu trách nhiệm cho sự ngu dốt của người khác. Tính ra Mỹ là Siêu Cường, nhưng lại là thằng bị chửi nhiều nhất Bất kỳ 1 xã hội thất bại nào đều đổ lỗi cho Mỹ, vừa dễ đồng cảm quốc tế ,vừa dễ hiệu triệu được sự đồng cảm của nhân dân. Mỹ tính ra khổ như chó các cụ ạ.
Cay nhất là chỗ này, Cuba chưa bao giờ coi Venezuela là bài học, chỉ coi là nguồn tài trợ. Còn Venezuela cũng chưa bao giờ coi Cuba là gánh nặng, chỉ coi là biểu tượng để khoe đạo đức cách mạng. Hai thằng lợi dụng nhau, ôm nhau trong diễn văn, nhưng khi tiền cạn thì mỗi thằng một kiểu chết. Một thằng chết dần vì thiếu năng lượng, một thằng chết dần vì thiếu não 🤣🤣
Cuối cùng, thứ còn sót lại không phải là lý tưởng, không phải là công bằng xã hội, mà là một đống dân nghèo và một nhóm lãnh đạo chưa từng nghèo ngày nào. Cách mạng thắng lợi trên giấy, còn ngoài đời thì dân thua sạch.
Con mợ nó rồi tất cả về cái máng lợn.
Venezuela đốt dầu để nuôi ảo tưởng. Cuba đốt ảo tưởng để nuôi quyền lực.
Hai bên cùng mõm nói vì nhân dân, nhưng nhân dân thì luôn là thằng phải ngồi trong bóng tối.
Đăng nhận xét