Trần Manh Hảo
LÀM DÂU
Trần Mạnh Hảo
Chị làm dâu cuộc chiến tranh
Hòa bình khóc kẻ chưa thành lứa đôi
Hứa hôn với lính lâu rồi
Nghĩa trang chị bạc tóc ngồi làm dâu
Giá ngày xưa kịp lấy nhau
Giờ này chắc đã con đầu bằng anh
Đất sâu đợi rỗng tiểu sành
Mộ chưa có cốt rừng xanh gửi hồn
Mỗi khi chim lợn kêu dồn
Khói hương khấn gió Trường Sơn tìm mồ
Đêm về đội lén khăn xô
Thương người nằm khoác balô mối đùn
Tay sờ ảnh mộ còn run
Xin thương rế rách chổi cùn chiến tranh
Gọi thầm nấm đất bằng anh
Chị xin nhận tấm cỏ xanh làm chồng
-----------
Trong tuyển tập thơ gần 500 bài NXB hội nhà văn xb năm 2022 của TMH, thể loại lục bát chiếm không nhiều nhưng không hề kém cạnh so với các thể thơ khác. Ở bài thơ Làm dâu TMH đã khéo léo đưa những sáng tạo về chữ nghĩa, ý tứ vốn táo bạo và mạnh mẽ của một trí thông minh vượt trội, một tâm hồn đa cảm, ngay thẳng vào trong sự dịu mềm, lả lướt mượt mà của lục bát truyền thống. Dư vị mà bài thơ đưa lại là sự phối trộn giữa thân phận của người phụ nữ nhỏ bé, bất hạnh với những cơ cực đau khổ hiển nhiên, đương nhiên, triền miên khi “làm dâu cuộc chiến tranh ” và những nhớ mong, ao ước, thất vọng, hi vọng về hạnh phúc lứa đôi trong trái tim run rẩy của người đàn bà đơn côi mong manh giữa mênh mông thời vận. Chất hiện thực TMH đưa vào Làm dâu không khỏi tạo ra cảm xúc tê buốt bởi những bẽ bàng chua chát mà nhân vật trữ tình bị vây bủa nhưng cũng chính trong vị mặn cuộc đời ta nhận ra sự đơn thuần, hồn nhiên của tấm lòng nhân hậu thuỷ chung ở người phụ nữ Việt Nam, một vẻ đẹp gặp hàng ngày mà nghe linh thiêng huyền bí như một tín ngưỡng. Tôi như nhìn thấy trái tim vốn hào sảng mãnh liệt của TMH tựa hồ không còn vách ngăn nữa, chỉ còn nóng bỏng nước mắt của tình thương và lòng trắc ẩn chảy thành lục bát như lụa mềm mặc áo cho đời làm dâu khổ tận.
“Làm dâu” là nghĩa vụ của con dâu đối với các thành viên trong gia đình nhà chồng, còn “Chị làm dâu/ cuộc chiến tranh”. Dòng đầu của bài thơ không có nhịp uyển chuyển 2/2 thông thường của điệu thơ truyền thống , nhịp 3/3 đã bẻ đôi câu thơ thành 2 vế tương phản giữa một phận làm dâu éo le của người vợ nhỏ yếu với cuộc xung đột vũ trang có quy mô to lớn giữa các quốc gia. Như có quyền năng đặc biệt, câu “mở bát” của bài thơ là chìa khóa để mở ra một cái rương cuộc đời người phụ nữ “làm dâu cuộc chiến tranh” mà mỗi câu thơ sau đó là một giọt đời buồn rơi vào lòng nhân thế!
Nội dung bài thơ là câu chuyện cuộc đời người phụ nữ hứa hôn với lính trong chiến tranh, hòa bình lập lại vẫn chưa đón được hồn xác người “chồng”. Phần vỏ cuộc đời chị dễ hiểu như nghĩa tường minh của một đơn vị tiếng Việt . Nhưng vị của thơ nằm ở phần ruột đó là chân dung NGƯỜI ĐÀN BÀ KHÓC được vẽ bằng nỗi thương tâm khủng khiếp từ trái tim của TMH.
Chị khóc trong nhớ mong dài lâu từ chiến tranh đến hòa bình, từ lúc tuổi xanh cho đến khi đầu bạc.
Chị làm dâu cuộc chiến tranh
Hòa bình khóc kẻ chưa thành lứa đôi
Hứa hôn với lính lâu rồi
Nghĩa trang chị bạc tóc ngồi làm dâu
Khóc thầm trong sự ngậm ngùi tiếc rẻ.
Giá ngày xưa kịp lấy nhau
Giờ này chắc đã con đầu bằng anh
Ngày khóc vì hồn cốt người lính vẫn biền biệt đâu đó nơi rừng xanh núi đỏ.
Đất sâu đợi rỗng tiểu sành
Mộ chưa có cốt rừng xanh gửi hồn
Đêm khóc vì làm dâu chỉ là danh phận chưa có thật nên ngay cả việc để tang chồng cũng ôm thầm vụng trộm xót xa.
Đêm về đội lén khăn Xô
Thương người nằm khoác ba lô mối đùn
Khóc người lính nơi chiến trường không bước qua được cái chết, tàn cuộc rồi hồn xác vẫn lạc trôi giữa mênh mang Trường Sơn chưa tìm được lối về nơi an nghỉ. Khóc vì cuộc chiến đi qua đã lâu, tuổi trẻ đi qua đã lâu nhưng chút kỉ niệm son trẻ vẫn bồi hồi dù thanh xuân năm nao nay đã thành một thứ thừa ra, rách nát, cũ kĩ.
Tay sờ ảnh mộ còn run
Xin thương rế rách chổi cùn chiến tranh
Đau khổ chất chồng theo tháng năm, khóc đến cạn cả nước mắt và khô cả máu, người đàn bà không hóa núi vọng phu vì chị không phải truyền thuyết trong sách vở. Nơi nghĩa trang đìu hiu hoang vắng khi trời đất se duyên cho cuộc hợp hôn cuối đời, nước mắt đã thành lời thì thầm rơi vào mộ cỏ.
Gọi thầm nắm đất bằng anh
Chị xin nhận tấm cỏ xanh làm chồng.
Điệu thơ đi nhịp nhàng, không biến đổi nhiều, từ ngữ trong thơ gần gũi, thông dụng, bình dân nối tiếp trơn tru như một ca sĩ nhả chữ trong một bản nhạc thuộc lời. Lục bát Làm dâu là lụa mềm làm bồi hồi xao xuyến những kẻ khó tính nhất.
Nhưng lục bát Làm dâu cũng là lụa sắc như dao cắt , làm ĐAU trái tim người đọc. Bài thơ không hề né tránh những hi sinh mất mát đau thương khủng khiếp mà chiến tranh “ném” vào người phụ nữ. Truy sát triệt để hiện thực tàn khốc của tình yêu thời chiến bằng góc nhìn chân thực đầy cảm thông, TMH thương xót người đàn bà “làm dâu cuộc chiến tranh” chơi vơi giữa thời gian- không gian lớn nhỏ, xa gần, hư thực. Khi đợi chờ nhớ mong đằng đẵng “ chiến tranh - hòa bình- bạc tóc”, lúc hoang mang, mờ mịt, mông lung “khói hương khấn gió Trường sơn tìm mồ”, khi ở cõi này thẫn thờ với “ Nghĩa trang- ảnh mộ- nấm đất -cỏ xanh” lúc mơ hồ rờn rợn nơi cõi khác “ Đất sâu đợi rỗng tiểu sành – Thương người nằm khoác ba lô mối đùn.’’.
Lấy bút pháp tả chân làm nền cho sáng tác của mình nên từ ngữ được dùng trong bài thơ không lấp lánh, bóng bẩy, kiêu sa. Chữ đi liền với nghĩa, chữ giản dị, thông dụng, nghĩa minh bạch, dễ hiểu nhưng chính sự giản dị và minh bạch lại đi thẳng vào trái tim làm rung động tâm can. Như một gã phù thủy tài năng, TMH phù phép thổi hồn cho chữ nghĩa thành những câu thơ kinh động lòng người bởi chất hiện thực bỏng rát của lịch sử một thời khốc liệt và dữ dội không thể phai mờ.
Phảng phất lời kể nên cả bài thơ Làm dâu ta thấy TMH dùng nhiều yếu tố thời không, ít âm thanh cuộc sống. Chiến tranh không có tiếng bom rơi đạn lạc, hòa bình không có tiếng sáo diều vi vu, giọt nước mắt cũng lặng thầm như cuộc đời làm dâu của chị. Nhưng giữa không trung đâu đó người đàn bà phong thanh “tiếng chim lợn kêu dồn”, âm thanh ma mị ấy hoang hoải trời đất, loang ra cả Trường Sơn mây mù che đỉnh và thắp lên trong lòng chị chút hi vọng tâm linh mỏng manh của cuộc “đại” tìm mồ Liệt sĩ thăm thẳm không hồi kết. Khi giới thiệu nhân vật trữ tình nhà thơ viết “Chị làm dâu cuộc chiến tranh”, chỉ tính riêng từ 1945 đến nay, đất nước ta có 5 cuộc chiến tranh (TMH), người con gái làm dâu chiến tranh không còn là số phận một cá thể có nghĩa vụ với nhà chồng nữa và chiến tranh không chỉ gieo đau thương nơi tuyến đầu đánh giặc. Hòa bình lập lại, “ nhà chồng” của người đàn bà lại là “Nghĩa trang chị bạc tóc ngồi làm dâu” mà hồn xác anh vẫn chưa trở về, phần mộ trống vì “chưa có cốt” để cho câu thơ “ đất sâu đợi rỗng tiểu sành” đào luôn huyệt mộ cảm thương sâu hun hút nơi lòng người. Vì “chỉ hứa hôn với lính” nên chị làm gì có quyền khóc thương anh trước mặt mọi người, chỉ có thể bí mật“ đêm về đội lén khăn xô”, chỉ một chữ “lén” đặt đúng chỗ, TMH đã đưa vào lòng người đọc cả một biển trời buồn thương cuộn trào như sóng vỗ.
Dung lượng vừa phải, không cách điệu, không từ láy, bài thơ Làm dâu là minh chứng cho vẻ đẹp tuyệt vời của Tiếng Việt với sự thiết kế chữ nghĩa kì tài, cho lòng dũng cảm bất chấp trở ngại để được yêu con người một cách chân thành và mênh mông nhất của kẻ đa đoan TMH. Làm dâu gợi lại nỗi đau buộc lịch sử phải đối diện và vượt qua nó trước khi đạt trạng thái an yên. Hãy đọc nhé “Làm dâu” là một bài thơ “chữa lành” cho tôi và cho bạn.
1 nhận xét:
Điều ám ảnh nhất của bài thơ là hình tượng:
"Chị làm dâu cuộc chiến tranh
Hòa bình khóc kẻ chưa thành lứa đôi."
Chỉ hai câu đã chứa cả một nghịch lý đau xót:
Chiến tranh đã hết.
Hòa bình đã đến.
Nhưng có những người không bao giờ bước vào được cuộc sống hòa bình. Họ không còn người để cưới, để sinh con, để già đi cùng nhau.
Đặc biệt, câu:
"Nghĩa trang chị bạc tóc ngồi làm dâu"
là một hình ảnh: Người con gái không làm dâu một gia đình, mà làm dâu của cả một nghĩa trang, của một lời hứa hôn kéo dài đến hết cuộc đời.
Là người lính, chắc ai cũng cảm nhận sâu hơn nhiều người ở đoạn:
Khói hương khấn gió Trường Sơn tìm mồ
...
Mộ chưa có cốt rừng xanh gửi hồn.
Đó không còn là nỗi buồn của tình yêu, mà là nỗi đau của hàng vạn gia đình còn đi tìm hài cốt người thân.
Vì vậy:
Đây không chỉ là "Nỗi buồn chiến tranh", mà là nỗi buồn của hòa bình!
Chiến tranh kết thúc bằng một hiệp định. Nhưng những mất mát mà nó để lại thì có những người phải mang suốt cả một đời. Có những cô gái không bao giờ được làm cô dâu, chỉ còn biết "làm dâu cuộc chiến tranh"!
Với tôi, "Nỗi buồn của hòa bình" còn thấm hơn "Nỗi buồn chiến tranh", bởi chiến tranh đã lùi xa, nhưng nỗi đau của những con người ấy vẫn còn hiện hữu giữa thời bình.
Thật.
Đăng nhận xét