Được nghỉ phép 5 ngày. Cậu Chu nói: "Về quê em con gái đầy, em dẫn anh đi tham khảo mấy trường hợp, ưng đám nào là xong ngay".
Tôi liền theo Chu về xã Hướng Đạo, huyện Tam Dương,
tỉnh Vĩnh Phúc.
Sáng sớm đạp xe, trưa đã về tới nhà. Khi tôi ngồi ngoài nhà uống nước thì Chu vào bếp trao đổi với vợ việc của tôi.
Sau bữa cơm, Chu cho biết là vợ chồng anh bàn bạc, tìm được cho tôi 4 trường hợp, có thể xem mặt trong chiều nay.
1, cô Phó chủ tịch xã. 2, cô phụ trách bán hàng thương nghiệp xã. 3, cô xã đội trưởng. 4, cô trung đội trưởng dân quân và phụ trách thanh niên.
Hai anh em đi đến từng nhà. Lấy có được nghỉ phép, tạt vào thăm gia đình, chuyện trò dăm ba phút.
Cô thứ tư không ở nhà. Cô đang xáo cỏ ngoài đồng.
Anh em đi ra ruộng, vờ như đi tắt để về nhà. Cô mạc chiếc áo cánh nâu, quần xắn lên đầu gối, đầu trùm chiếc khăn kín mặt nên tôi không nhìn được mặt, dáng người trông cao ráo.
Tối đó, Chu dẫn tôi đến nhà gặp bố vợ anh. Ông là Chủ tịch xã, nắm được tình hình các cô.
Nghe con rể trình bày xong, ông rít một hơi thuốc lào, chiêu ngụm nước, ra chiều suy nghĩ: "Các trường hợp đều được cả, nếu ở nhà thì lấy được. Nhưng bộ đội, lại đi xa lâu ngày, không biết sống chết thế nào, chúng nó khó mà chờ được. Riêng trường hợp con Lan có chờ được thì chờ. Con Lan đã là Đảng viên dự bị, 3 đứa kia khá hơn nhưng chưa phải Đảng viên".
Tôi thưa: "Chủ tịch xã có ý kiến như thế thì tôi cũng nhất trí như thế thôi". Tôi tin Chủ tịch xã. Già cả rồi, hiểu tâm lý con người ta.
Hoàn cảnh tôi lúc này không dám nói ưng hay không.
Sáng hôm sau chúng tôi đến nhà cô Lan. Cô Lan là trường hợp thứ tư, chiều qua tôi nhìn thấy ngoài ruộng.
Cô Lan rót nước mời khách rồi lui xuống bếp. Bà mẹ tiếp chuyện.
Cậu Chu đặt vấn đề: "Anh Quyên là tiểu đoàn trưởng, vì hoàn cảnh đất nước chiến tranh nên chưa lập gia đình, nay sắp đi chiến đấu ở miền Nam. Muốn xin ý kiến gia đình về việc em Lan".
Bà mẹ nói: "Ông nhà đã mất, tôi già cả không biết thế nào, để xem ý kiến anh chị con bà cả ra làm sao".
Chúng tôi đến nhà anh chị con bà cả, để họ xem mặt tôi. Họ ưng ngay. Mọi người cùng đi về nhà cô Lan.
Khi người anh trao đổi với bà mẹ và cậu Chu thì tôi xuống bếp. Cô Lan đang đun nước. Tôi ngồi xuống đối diện. Trông cô không đẹp không xấu, da ngăm đen, có vẻ chất phác, thật thà.
Tôi nói: "Tình hình là tôi sắp đi chiến đấu xa. Về đây xem có trường hợp nào thành gia đình để tôi yên tâm đi".
Cô Lan củi nhìn bếp lửa, chẳng nói gì.
Tôi đi ra ngoài sân, ngắm nhìn quanh cảnh ngôi nhà, khu vườn.
Việc vậy là xong. Tôi về đơn vị báo cáo.
2 ngày sau, đơn vị cử 2 đồng chí cùng về xã Hướng Đạo tổ chức lễ thành hôn. Lễ mang đến nhà gái là 2 gói thuốc Tam Đảo, 2 gói chè Hồng Đào. Các thủ tục diễn ra trong 30 phút. Nhà gái làm 1 mâm cơm. Đêm đó tôi ở lại nhà vợ, sáng hôm sau, xin phép mẹ và vợ về đơn vị lo công việc đi B.
Tôi đã 35 tuổi, tưởng đã yên lòng với tình trạng độc thân. Chiến tranh xảy ra làm cho tâm lý con người thay đổi. Tâm lý thời bình chuyển sang tâm lý thời chiến.
Thủ trưởng nói rằng: Tôi chưa có gia đình thì chưa thể yên tâm đi chiến trường xa.
Tôi phải lấy vợ. Nếu hy sinh, thì cuộc đời tôi cũng đã CÓ VỢ.
***
Năm tôi 13 tuổi, bố tôi và bố của Kế hứa hẹn làm thông gia.
Tôi lên tỉnh học, hè về quê, bố gửi tôi đến học tại nhà một người ở gần nhà Kế. Sau buổi học, bố Kế cho người đến đón tôi về nhà ăn cơm.
Họ hàng 2 bên có đám cưới, đám giỗ là hai đứa cùng được đi. Người lớn khéo léo thu xếp cho tình cảm đôi trẻ đến tự nhiên.
Để con gái tương xứng trình độ với con rể, bố cho Kế đi học.
Những đêm mưa, học xong ở nhà thầy giáo, bố Kế đón tôi về ăn cơm rồi tôi ngủ lại nhà Kế. Hai đứa học bài dưới ngọn đèn dầu lạc, mẹ và các em xay lúa ngoài thềm, hai đứa nói chuyện với nhau bằng giấy bút.
Tới lúc phải đi ngủ, tôi ngủ ở nhà trên, Kế xuống ngủ ở chiếc võng nhà dưới. Nghe tiếng võng kẽo kẹt, tôi biết là Kế cũng không ngủ được.
Thi xong trung học phổ thông, cuối năm 1949, tôi sang học Chuyên khoa 1, trường Nguyễn Thượng Hiền.
Một lần, tướng Nguyễn Sơn đến trường nói chuyện về đề tài "Trai thời loạn": Tổ quốc lâm nguy, người con trai có chí là phải xả thân cứu nguy Tổ quốc, khi hết binh đao, những tà áo dài thướt tha dạo quanh hồ, chàng trai nào không có chiến công sẽ bị các nàng đá xuống hồ...
Đầu xuân năm 1950, tôi bỏ học, về nhà, thưa với bố mẹ xin đi bộ đội. Bố tôi rất buồn, ước mơ có đứa con thi đỗ tú tài vậy là dang đở.
Buổi sáng tòng quân, đi qua lớp học trong đình làng, tôi ghé vào chào Kế. Tôi đứng ngoài cửa nhìn vào. Kế ngồi trong bàn học nhìn ra. Thế rồi tôi đi.
Sang Trung Quốc học lục quân khóa 6, vận chuyển vũ khí, mùa thu năm 1951, trở về nước, tham gia chiến dịch Hòa Bình, giải phóng Tây Bắc.
Trải qua chỉnh quân chính trị, lại tiến vào Tây Bắc giải phóng Lai Châu. Sau trận Điện Biên, đơn vị tôi về đóng quân ở Thọ Xuân, Thanh Hóa, cách nhà 50 cây số. Tôi xin đơn vị 4 ngày phép về thăm nhà.
Mờ sáng, tôi lên đò dọc xuôi sông Chu, xuống Hậu Hiền, từ đó lên bờ đi bộ về nhà.
Chiếc quần rách bẩn thỉu, nham nhỏ, ống cao ống thấp. Chân đi đôi giày trận lấy được của địch. Đầu đội chiếc mũ nan bọc dù hoa.
Anh bộ đội Điện Biên Phủ chiến thắng trở về mà bộ dạng thế này thì ngại quá, tôi lôi tấm dù hoa trong ba lô choàng lên người.
Về đến chợ Nguyễn đã 9 giờ đêm. Ở quê bấy giờ, vẫn đang họp chợ vào ban đêm để tránh máy bay. Tôi vào nhà bà cô mù lòa ở trong chợ, nhờ bà ra chợ tìm xem có mẹ không.
Mẹ tôi bước vào, nhìn tôi chằm chằm rồi quay sang nói với bà cô: "Hình như không phải thằng Quyên".
Tôi hỏi đến bố, hỏi đến các em. Mẹ ôm tôi khóc: "Thằng Quyên thật rồi, giọng của thằng Quyên, thế mà người ta bảo nhìn thấy nó theo Phát Diệm vào Nam!".
Mẹ nắn bàn tay tôi, cánh tay tôi, sờ vào tóc, sờ vào vai. Ngày ra đi mắt nó không sứt, cổ nó không sẹo.
Hai mẹ con đi về tới nhà đã nửa đêm. Bước vào nhà, tôi không thốt nổi lời. Nhà trống không, cánh cửa cũng bị tháo đi rồi. Bố tôi đang ở trại cải tạo.
Đàn em thức dậy, đứa lại gần anh khóc thút thít, đứa đứng im ngơ ngác nhìn.
Mẹ tôi chấm nước mắt, không biết bố ở trại nào để gửi cho cái quần cái áo. Người ta kêu lên huyện họp rồi bắt đi luôn, không cho về nhà.
Tôi thức đến sáng. Tôi không hình dung được những chuyện gì đã xảy ra trong gia đình mình mấy năm qua.
Anh bộ đội Điện Biên Phủ trở về, mà không bà con cô bác nào đến nhà chào mừng.
Tôi cắt tấm dù hoa thành nhiều mảnh cỡ chiếc khăn mùi soa nhỏ, mang đi biếu mỗi nhà mỗi mảnh, chút quà nhỏ chiến trường.
Đến nhà nào cũng ánh mắt ái ngại, xa .cách, tôi mủi lòng không dám ngồi lâu.
Để thể hiện lập trường giai cấp, tối hôm sau tôi không ngủ ở nhà mà đi ngủ ở nhà ông bần cố nông.
Sáng mai, hết 4 ngày phép, đêm nay tôi mới dám đi sang nhà Kế.
Cảnh nhà Kế không khác mấy nhà tôi.
Bố Kế mất rồi, nhưng vì ông từng có thời gian làm lý trưởng, nên nhà cũng bị tịch thu đồ đạc, bị cách ly khỏi xóm làng, mẹ bị đấu tố.
Kế không được đi học nữa, hai đứa em đi lang thang.
Kế đi với tôi một đoạn ra ngoài đường làng, trong bóng đêm, tôi ôm choàng Kế, nói vài lời an ủi và hứa hẹn.
Hôm sau, trên đường về đơn vị, tôi gặp anh trai. Anh đội trên đầu giỏ ốc. Trông anh tiều tụy, thiểu não.
Ngày tôi đi bộ đội, anh đang học sư phạm, chị mang bầu đứa con đầu.
Khi tôi về, đứa con đầu và đứa thứ hai mới ba tháng đã phải cho đi làm con nuôi.
Anh tôi ra trường không được đi dạy. Anh mang đồ nghề đi cắt tóc dạo, bị dân quân tịch thu đồ.
Làm gì cũng bị cản trở, anh chị ra khỏi làng, đến huyện Nga Sơn, gặp được một gia đình tốt bụng cho ở nhờ.
Hàng ngày chị bắt ốc, anh đi chợ bán. Tôi đến nhà ông bà đã cho anh chị ở nhờ. Tỏ lòng biết ơn ông bà và cũng là để ông bà yên tâm về thân nhân gia đình, rằng anh chị có em trai là sĩ quan.
Chính trị viên gọi tôi lên nói chuyện. Anh nghe rằng tôi sắp về quê cưới vợ.
Chính trị viên nói: Luật đã định, sĩ quan lấy vợ là phải thông qua lý lịch, mà lý lịch là phải trong sáng, ở nông thôn phải xuất thận bần cố nông, ít ra cũng trung nông.
Không ai cấm anh cưới vợ thành phần lớp trên, nhưng nếu kiên quyết cưới thì anh phải rời khỏi quân đội.
Chính trị viên nói tiếp: Anh đang là quần chúng cảm tình của Đảng. Anh nên nghĩ đến xương máu của anh và đồng đội đã đổ xuống 4 năm qua, nghĩ đến sự nghiệp cuộc đời quân ngũ còn lâu dài.
Lòng dạ ngồn ngang, tôi không nghĩ được gì.
Một năm sau, đơn vị cho tôi đi viện Quân y 108 vá lại mi mắt do bị mảnh đạn cối bắn vào trong trận phòng ngự ở bản Tà Lèng. Ra viện, vừa dịp tết, tôi xin được về nhà ăn tết.
Ngôi nhà trống không tôi về lần trước nay bà con nông dân đến ở.
Tôi đi tìm mẹ và các em ở xó núi, qua lối vào lầy lội, đến ngôi nhà rách nát của ông Chùa Nhâm. Ông Chùa Nhâm trước đây trông coi chùa, có người con trai đầu tên Nhâm.
Em Hải 6 tuổi mà như trẻ lên ba. Trời giá rét, em chỉ có chiếc quần đùi, mũi chảy thò lò, đứng từ xa nhìn anh sợ sệt.
Em Sơn bị người ta vu oan, đánh đập nhiều quá, suy sụp tinh thần, đi lang thang.
Em Nhu đi làm mướn ngoài Nam Định.
Mỗi ngày, mẹ ra khỏi nhà khi em Hải đang ngủ. Củ khoai mẹ vùi trong bếp cho em bị lũ trẻ ngoài xóm đến lấy ăn mất. Chúng khuấy cả vại dưa, đổ phân trâu vào.
Hải chỉ biết sợ. Thấy chúng sắp đi vào ngõ, Hải nằm trốn trong bụi dứa dại khỏi bị đánh. Em nằm trong đó rồi ngủ luôn đến khi mẹ về.
Mẹ xin đi làm mướn quanh làng nhưng không ai mướn. 3 giờ sáng, mẹ sang làng biển bên huyện Tĩnh Gia mua chịu một thúng muối, đội lên các xã miền núi rao bán. Tối đêm, trả tiền vốn cho người ta, lời đủ mua một nắm khoai, giấu vào trong vạt yếm, đi về làng.
Bố vừa từ trại cải tạo về. Bố được về trong đợt sửa sai đầu tiên.
5 năm rồi bố con mới gặp nhau. Tôi không hỏi bố chuyện cải tạo thế nào.
Bố mang về từ trại cải tạo một chiếc khăn mặt. Nhìn chiếc khăn mặt là hiểu. Chiếc khăn như miếng giẻ rách bẩn thỉu, rộng cỡ bàn tay, đen xỉn, vá nhăm nhút, chỗ sờn chỗ mủn. Tôi lén cất chiếc khăn vào ba lô mang theo làm kỷ niệm 3 năm cải tạo của bố.
Chiều 30 Tết tôi đến nhà Kế. Xin phép mẹ cho em sang ăn bữa cơm tất niên. Tôi 25 tuổi và em đã 24.
Bao nhiêu năm nay em gắn bó với gia đình tôi. Kế rất vui, cùng với mẹ và chị tôi làm cơm, tíu tít nói chuyện.
Đêm 30 Tết, tôi lấy hết can đảm, nói hết dòng tâm sự với Kế.
Tôi mong em chia sẻ với sự mất còn của gia đình.
Không thể lấy nhau rồi mất tất cả. Đời quân ngũ bỏ đi tôi không tiếc. Trở về làm một người nông dân tôi không ngại.
Nhưng chỉ ở trong quân ngũ tôi mới cứu được gia đình. Ở trong quân ngũ tôi mới có vị thế, có tiếng nói, có tiền lương, để cứu một gia đình đang tan tác.
Mỗi lời nói ra tôi như đang tự cầm dao rạch tim mình.
Kế khóc ngất, lịm đi.
Tôi đã đọc Paven Coocsagin, đã nằm trong tầm đạn cối mà xem Thượng Cam Lĩnh, đã đạp lên xác đồng đội trong bùn nhão vượt qua ngã ba giao thông hào tiến công vào đồi A1. Để sung sướng tột đỉnh trong chiều ngày 7.5...
Nhưng lúc này đây nỗi đau đớn đã san bằng tất cả.
Kế nói, em sẽ về tự vẫn trên sông Máng.
Mẹ tôi giữ em ở lại đến sáng mai. Sáng mùng một Tết, tôi ngồi bất động vô hồn không dám nhìn em đi về. Quyết định chia tay Kế là tôi đã chọn sống độc thân.
Tôi dành cả cuộc đời mình để lo tiếp cho bố mẹ và các em.
Tôi đi chuộc các em về nhà, xin cho các em đi học.
Năm 1958, tôi được phong quân hàm thượng úy, tháng lương đầu tiên là 100 đồng, tôi biếu mẹ 80 đồng để mua một con bò kéo cày thay cho các em.
Tôi nghe tin Kế đã lấy chồng, lấy một ông góa vợ đã có hai đứa con riêng.
Tôi đi học Đại học Kiến trúc, ra trường, công tác ở Quân khu Tây Bắc.
Năm 1965, máy bay Mỹ ném bom xuống khu chỉ huy sở quân khu. Doanh trại tanh bành. Một cái thùng nước tự đắp thí điểm bằng bê tông cốt tre của phòng tôi bay qua tường rào, một chiếc xe đạp treo khung trên cành cây cao.
Sau hơn mười năm thấy lại hình ảnh chiến tranh.
Xưởng sản xuất dừng hoạt động. Các hang đá làm kho vật liệu, trụ sở, chỗ ở.
Cả kho gỗ xẻ, triệu viên gạch, chục lò vôi và bao nhiêu công sức chuẩn bị xây dựng doanh trại chính quy đành bỏ lại.
Mọi thứ chuyển sang tình trạng chiến tranh.
***
Nếu không có cuộc chiến đó có thể rồi một ngày nào đó tôi cũng lấy vợ, nhưng lấy theo một cách khác.
Sau lễ thành hôn mươi ngày, thì cô Lan lên đơn vị thăm chồng. Tôi ra bến đò đón vợ về ở nhà vợ chồng người bạn, nhờ bạn đón tiếp.
Sát ngày đi, công việc rối bù, 10 đêm mới về mà 6 giờ sáng đã phải có mặt ở đơn vị. Vợ chồng gần nhau ở nhà bạn một tuần thì tôi lên đường.
6 tháng vượt Trường Sơn, sốt rét, bom pháo, lo tư tưởng cho anh em, tôi quên mất cô Lan ở nhà.
Một lá thư từ ngoài Bắc gửi vào, làm cho tôi nhớ mình đã có vợ.
Cô Lan viết: "Em đợi được nhưng mẹ sốt ruột, mẹ muốn em có đứa con. Mẹ nói với người ta, anh ấy tuy lấy nó làm vợ nhưng có cưới xin gì đâu, cho nên giờ nó muốn lấy chồng cũng được".
Tôi viết thư trả lời: "Em cứ lo liệu cho em, đừng cố chờ anh, anh chưa biết khi nào ra được".
Trái tim chưa có gì gắn bó, chưa có một kỷ niệm, tôi không thể viết khác.
***
4 chiến sĩ trẻ măng, chừng 14-16 tuổi, mặc quần đùi, áo lót, đang ngồi đánh bài sau khi rút quân trong thành về.
Khi họ dừng chia bài, tôi hỏi một chiến sĩ: "Cháu nhỏ thế sao đã vào Nam chiến đấu?".
Cậu ta trả lời: "Cháu quê Hải Dương, đáng lẽ anh cháu đi, nhưng nhà neo người mà cháu thì chưa biết làm ruộng, nên cháu đi thay anh, để anh ở nhà giúp mẹ".
Trả lời xong, cậu ôm bài đánh tiếp, nước mũi thò lò, chảy ra lại hít vào.
Hình ảnh làm tôi nhớ các em tôi ở nhà, nhớ đến gia cảnh mình. Không biết bây giờ các em tôi ra sao?.
Một sáng, tôi đang đứng trên một gò quan sát đoàn quân từ Bắc vào thì 1 chiến sĩ chạy tới ôm lấy chân tôi.
"Em Hải đây mà". Tôi không nhận ra đứa em út của mình.
Ngày anh ở Điện Biên về em đứng xa nhìn anh. Em trốn trong bụi dứa chờ mẹ đi bán muối về. Thế mà em đã đi bộ đội.
Dọc đường Trường Sơn, Hải bị bom vùi, bị sức ép bom phải vào viện. Em còi cọc, bị ốm nhiều trận, lọt thỏm giữa đoàn quân, bị tụt lại sau đoàn nhiều lần, rồi cũng vào đến nơi.
***
Trưa 1.5.1975, đơn vị tôi vào đến Sài Gòn.
Sau một tuần ở Sóng Thần tôi được phân về phòng quân lực Quân khu 7. Đơn vị bố trí cho ở một biệt thự, trước cửa biệt thự ghi tên "Trung tướng Hoàng Xuân Lãm".
Nằm võng, ngủ hầm đã quen, nay đặt lưng trên chiếc giường đệm tôi nóng lưng khó chịu, nửa đêm, dậy kiếm một tấm ván đặt lên nệm mới ngủ được. Ngày nào cũng phải xuống quận 5 kiếm kê tài sản.
Bấy lâu ở trong rừng, bom đạn nhưng không đinh tai nhức óc căng thẳng thần kinh như những ngày về đây làm mấy việc này.
Niềm vui lớn nhất trong những ngày ở Sài Gòn là tôi gặp được đứa cháu mà năm xưa anh chị cho đi làm con nuôi. Cháu đang là chiến sĩ lái xe cho thủ trưởng đoàn phòng không.
Công việc và cuộc sống ở Sài Gòn không hợp với tôi.
Hai tháng sau, tôi xin về Bắc.
Về đến trạm 66 - Hà Nội, tôi đắn đo. Lẽ ra tôi phải nôn nóng về ngay với vợ. Nhưng trong tôi không có sự nôn nóng đó. 9 năm rồi.
Cô Lan còn chờ tôi không. Chờ cũng được, không chờ cũng được.
Tôi về Thanh Hóa, bố mẹ khuyên tôi sớm ra với vợ.
Cậu Chu, với trách nhiệm làm mối, đã đưa Lan về Thanh Hóa ra mắt gia đình tôi. Từ đó mỗi năm một lần, Lan đi tết bố mẹ chồng, thăm hỏi các anh chị, các em.
Bố mẹ tôi thương quý cô. Đường xa, có năm bom ném dọc đường, thế mà một mình từ Vĩnh Phú đạp xe về Thanh Hóa; cha mẹ chồng già yếu bệnh tật, nhà cửa nhếch nhác, em út nheo nhóc, khổ sở vậy mà cô không nản lòng.
Tôi ra Hà Nội, tìm gặp em trai Lan. Hai anh em lên tàu về Vĩnh Yên, cuốc bộ 12 cây số về làng Hướng Đạo.
Mười một giờ đêm, xóm làng yên ắng. Nghe tiếng con trai gọi, bà mẹ kêu con gái dậy đốt đèn.
Tôi ngồi im nhìn Lan loay hoay đốt đèn. Ngọn đèn sáng. Soi rõ khuôn mặt một người đàn bà hốc hác, đen đúa.
Thắp đèn xong, cô đi vào trong buồng. Cô đã nhận ra tôi. Hình như cô khóc. Rồi cô bước ra ngay, lại giường mẹ, nói thầm.
Bà mẹ bật dậy thảng thốt: "Ối dồi ôi ối dồi ôi ối dồi đất ơi ối bà con ơi... Chồng con Nan về chồng con Nan về!"...
Đồng đội tôi trong Nam về, đến thăm vợ thủ trưởng, nói những lời ca ngợi, đề cao tôi.
Phải chăng những điều đó nuôi dưỡng sự chờ đợi. Tôi chưa khi nào hỏi cô về điều đó.
45 tuổi, tôi có đứa con đầu lòng. Trải qua hai cuộc chiến, nguyên vẹn trở về, có một tổ ấm bình yên, dẫu muộn mắn.
Không phải anh bộ đội nào cũng được may mắn như tôi.
Anh Lại Văn Nhâm, con trai ông Chùa Nhâm, đi bộ đội, bị bắt ra nhà tù Phú Quốc.
Tháng 2.1973, anh Nhâm trong đoàn tù binh được trao trả ở sông Thạch Hãn, nhưng chưa được về nhà, tiếp tục lên Yên Bái.
Bởi hồi anh bị bắt, nghe đâu địch rải truyền đơn về làng, rằng anh đã đầu hàng địch. Sau 7 năm từ Yên Bái về, dân làng vẫn không tha cho anh, không sống nổi ở làng, hai vợ chồng đi lên Nông Cống kiếm ăn, mấy năm sau anh chết ở quê người.
***
Tôi và Kế gặp lại một lần, khi tôi về Bắc đã 3 năm.
Câu đầu tiên Kế nói khi gặp lại: "Đi chiến trường bao nhiêu năm mà anh còn sống, sao anh không chết đi cho em đỡ khổ".
Kế mất vì một bệnh hiểm nghèo. Em gái Kế dẫn tôi ra mộ thắp hương.
Vừa cắm nén hương xuống mộ thì thấy một con rắn trườn quanh mộ. Tôi không nghĩ gì, em gái Kế cho rằng chị Kế hiện hồn về.
Mối tình đầu quý hóa như thế mà phải hy sinh.
Ở tuổi thanh niên mà phải quyết định một việc như thế, trái tim sắt đá mới chịu được.
---
* Anh bộ đội Lê Quyên; sách "Gia đình" của Phan Thúy Hà, NXB Phụ nữ Việt Nam, 2021.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét