Mỗi năm, gần như đúng hẹn, Trung Quốc lại đơn phương ban hành “lệnh cấm đánh bắt cá” trên Biển Đông — bao trùm cả những vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.
Và cũng gần như đúng hẹn, phía Việt Nam lại ra tuyên bố:
“kiên quyết phản đối”,
“yêu cầu tôn trọng luật pháp quốc tế”,
“không làm phức tạp tình hình”.
Mọi thứ lặp lại đến mức người dân có thể đoán trước từng câu chữ.
Nhưng ngoài khơi, đời sống không vận hành bằng tuyên bố ngoại giao.
Ngoài đó là tàu cá bị đâm.
Là ngư dân bị xua đuổi.
Là ngư cụ bị tịch thu.
Là những người đàn ông đi biển trở về với thân tàu nát bươm — hoặc có khi không trở về nữa.
Người dân không am hiểu hết những bàn cờ chiến lược quốc tế.
Họ cũng hiểu quan hệ quốc gia luôn có những tính toán lợi ích phức tạp.
Nhưng dân thường nhìn mọi chuyện rất đơn giản:
Ai tôn trọng mình.
Ai ép mình.
Ai nói một đằng nhưng làm một nẻo.
Bởi vậy, mỗi lần nghe những mỹ từ như:
“hữu nghị”,
“đối tác chiến lược”,
“bạn vàng”…
trong lúc tàu cá ngư dân vẫn bị đâm va ngoài biển,
người ta không khỏi thấy mặn chát.
Điều khiến dư luận day dứt nhất không chỉ là các hành động áp đặt của Trung Quốc,
mà còn là cảm giác bất lực kéo dài.
Bởi trong nhiều năm,
Trung Quốc không chỉ nói.
Họ liên tục hành động:
quân sự hóa,
kiểm soát thực địa,
áp đặt lệnh cấm,
tăng hiện diện trên biển.
Từng bước một,
họ tạo ra một “sự đã rồi”.
Trong khi đó, phản ứng của Việt Nam phần lớn vẫn dừng ở ngoại giao và phản đối bằng lời.
Khoảng cách giữa tuyên bố chủ quyền và khả năng bảo vệ chủ quyền trên thực địa vì thế ngày càng trở thành một câu hỏi lớn trong lòng xã hội.
Và người gánh hậu quả đầu tiên không phải các chính khách,
mà là những ngư dân nghèo.
Những người chỉ có một niềm tin giản dị:
“Biển đó là nơi cha ông mình sống bằng nghề cá từ bao đời.”
Biển Đông vì thế không chỉ dậy sóng ngoài khơi.
Nó còn làm dậy lên trong lòng dân
một cảm giác rất khó gọi tên:
vừa bất an,
vừa uất ức,
vừa thương những phận người lênh đênh giữa mênh mông ngày đêm biển giã !
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét