Translate

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2022

MÙA ĐÔNG LỊCH SỬ

 

Nguyen Ngoc Chu


1.ÔNG PUTIN CÓ ĐẾN DONBASS?
Ông Putin đang dùng ống nhòm quan sát tập trận Vostok 2022 mãi tận miền Viễn Đông! ( https://www.baogiaothong.vn/tong-thong-vladimir-putin...). Tập trận là đánh giả. Đánh giả thì ít nguy hiểm đến tính mạng. Còn trận chiến thật ở Ukraine đã diễn ra hơn nửa năm thì ông Putin chưa bén mảng tới. Để che chắn, ông Peskov đã đánh tiếng là ông Putin dự kiến thăm Donbass, nhưng không đề cập đến thời điểm (https://plo.vn/ong-putin-sap-den-donbass-post697349.html). Ông Putin “thị sát” cuộc tập trận Vostok 2022 không làm tăng uy tín của quân Nga, cũng không thay đổi được cục diện của Nga ở chiến trường Ukraine.
Chưa có cuộc chiến tranh nào tốn kém tướng lĩnh như cuộc chiến tranh của Nga ở Ukraine. Trong vòng 5 tháng, hơn một chục tướng Nga đã bị thiệt mạng, cùng với ít nhất 6 tướng Nga đã bị cách chức. Bây giờ thì các tướng lĩnh Nga chỉ huy tại chiến trường Ukraine đều phải lùi xa chiến tuyến trên 100 km, nếu không sẽ bị bị Himars tìm kiếm. Bộ trưởng Quốc phòng Shoigu thăm Donbass cũng trong bí mật và ở sâu sau chiến tuyến. Trước đây, Tổng tham mưu trưởng Gerasimov cũng bí mật đến Donbass và cũng vội vã tháo lui. Ông Putin có đến Donbass thì cũng trong bí mật và trong chớp nhoáng.
2. TÌNH THẾ “KÊ CÂN”
Ông Putin đang ở trong tình thế rất nan giải. Nan giải đến mức phải cầu cứu đến các quốc gia như Bắc Triều Tiên và Iran. Nga đã mua máy bay không người lái của Iran và đang đàm phán để mua hàng triệu đạn pháo và tên lửa của Bắc Triều Tiên
Phải nhờ đến công nghệ của các nước dưới cơ như Bắc Triều Tiên và Iran thì hiểu được tình thế của Nga.
Ở phương diện thương mại, tình thế buộc Nga phải quan hệ với các đối tác như Taliban, chính quyền quân sự Myanmar… Trong quan hệ với Trung Quốc, Nga chấp nhận để Trung Quốc thanh toán cả đồng Rub lẫn đông Nhân dân tệ. Sự thao túng của Trung Quốc vào nên kinh tế Nga sẽ ngày một lớn.
Trước đây, Tổng thống Nga hay đề cập bóng gió đến bom hạt nhân. Nhưng ưu thế công nghệ của phương Tây trên chiến trường Ukraine đã cho nhiều người dự báo được kết cục của một cuộc chiến tranh huỷ diệt. Trên thực tế, tiền bạc mà Tổng thống Nga dốc vào để nâng cấp quân đội Nga đã không có được hiệu quả như trong các báo cáo. Tham nhũng trong quân đội Nga đã che mắt ông Putin. Giờ thì ông Putin có lẽ phần nào đã tiếp cận gần với sự thật về thực lực của các bên. Càng biết rõ sự thật sẽ bớt nói đến bom hạt nhân.
Tình thế của ông Putin hiện nay còn khó khăn hơn tình cảnh “kê cân” của Tào Tháo hai ngàn năm trước.
3. MÙA ĐÔNG LỊCH SỬ
Không phải là nói đến mùa Đông Matxcova năm 1941 – 1942; Cũng không phải nói đến mùa Đông Stalingrad 1942-1943; Mà nói đến mùa Đông Kherson 2022-2023: Kherson sẽ được giải phóng.
Chỉ còn 5 tháng nữa để kiểm chứng. Kết cục có thể đến sớm hơn.

NGUYÊN NGỌC

  Fb Truong Huy San

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2022

Ngày Độc lập nghĩ về .....Tự do. Dân chủ !

 


Truyền thông Việt Nam và trên thế giới tuần này đang đăng nhiều bài, cả khen cả chê về cựu TBT, Tổng thống đầu tiên của Liên Xô vừa qua đời, ông Mikhail Gorbachev (1931-2022).
Đã có các ý kiến nhắc rằng nhờ công cuộc Cải tổ – Perestroika mà Việt Nam có Đổi mới.
Nhưng ít ai ở Việt Nam hiện nay nói về sự xuất hiện của một ‘hạt giống Gorbachev’ ở Hà Nội khi đó, ông Trần Xuân Bách.
Sự lóe sáng rồi lụi tàn của Trần Xuân Bách trên chính trường Việt Nam để lại một thứ Cải tổ tật nguyền, mà hệ quả đang khiến Việt Nam rơi vào ngõ cụt của cải cách chính trị.
Xin nhắc lại bối cảnh năm 1986. Từ sau Đại hội Đảng CSVN lần thứ VI, TBT Nguyễn Văn Linh đã có các trao đổi cao nhất với TBT Gorbachev về đường hướng thay đổi ở VN. Liên Xô cho công bố các điều này trên báo Pravda ngày 20/5/1987. Ông Gorbachev cho biết:
“Tôi và đồng chí Nguyễn Văn Linh đã thảo luận chi tiết về các vấn đề phức tạp của hợp tác Việt-Xô… và cùng nhau nhận định rằng các mặt yếu kém của quan hệ này đã hiện ra rõ ràng và không còn phù hợp với tình hình hiện tại. Chúng tôi đồng ý rằng cơ chế kinh tế và hình thức hợp tác phải tương ứng với nhu cầu và của thời cuộc và tăng tính hiệu quả”.
Theo các nguồn Phương Tây, viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam đến đầu 1982 vẫn không giảm, thậm chí còn tăng lên trên 1 tỷ USD năm đó, theo nghiên cứu của Sally Stoecker. Tính ra 1 tỷ USD thời đó – mà Liên Xô viện trợ cho VN bằng ruble – tương đương 2,88 tỷ bây giờ.
Bất đồng về việc chi tiêu đồng tiền của Liên Xô sao cho hiệu quả là lý do đầu tiên khiến Gorbachev nhấn mạnh đến nhu cầu buộc lãnh đạo Việt Nam phải đổi mô hình quản lý kinh tế.
Tuy nhiên, phải đọc thật kỹ tác phẩm nổi tiếng “Bên thắng cuộc” của nhà báo Huy Đức, đặc biệt là toàn bộ Chương 13, mới thấu cảm hết sự cọ xát quyết liệt giữa xu hướng trì trệ và bảo thủ với làn gió mới khai phóng và cấp tiến trên thượng tầng chính trị VN giai đoạn từ năm 1987 đến khi ông Bách buộc phải rời chính trường.
Riêng phần hồi ức về giai đoạn đầy “máu lửa” này, thiết tưởng đường link sau đây sẽ cho bạn đọc một bức tranh toàn cảnh và chân thực về tầm nhìn và tư tưởng của một vị “Bí thư Trung ương Đảng” vô tiền khoáng hậu trong lịch sử ĐCSVN.
Chủ nhân của đường link giãi bày, dù có một chút muộn màng, những vẫn muốn ghi lại một số câu hỏi và giải đáp của ông Trần Xuân Bách, vì còn nguyên giá trị thời sự trong tình thế hiểm nghèo của đất nước, trước họa ngoại xâm lẫn nội xâm, đang rất cần dân chủ hóa để tăng cường nội lực của dân tộc.
Trần Xuân Bách lóe sáng
Thật ra, Trần Xuân Bách đủ mẫn tiệp để bắt đầu từ Hồ Chí Minh. Ông nhớ lại, Hồ Chí Minh mở đầu “Tuyên ngôn độc lập” bằng Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, nói đến các quyền tự do của con người mà tạo hóa ban cho họ.
Dân chủ là thể chế hóa các quyền tự do ấy. Theo ông, dân chủ là quyền lực của dân, với tư cách là con người tự do. Dân chủ không phải do lòng tốt của những người lãnh đạo muốn bạn ơn cho dân, thấy thuận lợi thì mở rộng, thấy bất tiện thì thu hẹp.
Trần Xuân Bách cũng không hề phủ nhận Karl Marx. Ông không chống Marx, không chống ĐCSVN, cũng không chống chủ nghĩa xã hội và chưa hề đòi đa đảng. Chẳng những thế, ông còn thành kính tạ tội: “Ta phải nhận lỗi trước Marx vì đã làm méo mó chủ nghĩa của ông”.
Ông viết: “Lịch sử đang thay đổi mạnh. Marx trao cho chúng ta vũ khí biện chứng duy vật và biện chứng lịch sử, chớ không phải trao ta Kinh Thánh! Việc vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản phải căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử đương thời như Marx nói.
Marx sống thời chủ nghĩa tư bản cổ điển, ngày nay là chủ nghĩa tư bản hiện đại, có nhiều cái khác với thời Mác. Ngay thời Lenin khi đề ra chính sách kinh tế mới (NEP), cũng đã đổi khác. Phải có tư duy khoa học. Tụng từng câu ‘Kinh Thánh’ trong sách Mác không bảo vệ được chủ nghĩa Mác đâu”.
Trần Xuân Bách lóe sáng trong cái nhìn biện chứng giữa đổi mới kinh tế và chính trị: “Vấn đề quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là thế nào? Có nước tự cho mình không cần đổi mới, đã bị bục vỡ. Có nước coi đổi mới kinh tế phải làm nhanh, còn đổi mới chính trị thì chầm chậm cũng bục chuyện. Có nước chỉ đổi mới kinh tế, không đổi mới chính trị, đã bục to. Có nước làm cả hai, nhưng không nhịp nhàng, gặp khó khăn. Hai lãnh vực này phải nhịp nhàng, không chân trước chân sau, không tấp tểnh đi một chân”.
“Vấn đề đặt ra lúc này là phải đổi mới đồng bộ, tổng thể, cả cơ chế kinh tế lẫn cơ chế chính trị. Hai vấn đề chủ yếu của cơ chế kinh tế là vấn đề sở hữu và vấn đề thị trường (luận đề: Kế hoạch nằm trong chứ không nằm ngoài và đứng trên thị trường). Hai vấn đề chính của cơ chế chính trị là: quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh, vai trò lãnh đạo của Đảng và quyền lực của nhân dân (Luận đề: Đảng nằm trong chứ không nằm ngoài và đứng trên xã hội ).”
Cuối 1989, trong quá trình chuẩn bị Đại hội VII của ĐCSVN Trần Xuân Bách tập hợp một nhóm nghiên cứu gồm các chuyên gia trong và ngoài nước. Từ những kết quả tư vấn của nhóm này, ông đã rút ra những kết luận cơ bản về “kinh tế thị trường”, với sự tham gia của mọi thành phần xã hội. Ông đưa ra tiên đoán, “đa nguyên kinh tế” tất yếu sẽ dẫn đến “đa thành phần” trong xu hướng chính trị, tức là “đa nguyên chính trị”. Ông khẳng định, “thị trường và đa nguyên là những thành tựu nổi bật của nhân loại”…
Điều thần tình là Trần Xuân Bách lấy Marx để bảo vệ tính chính danh của xã hội dân sự. Theo ông, kinh tế thị trường đòi hỏi phải có nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Trong hệ tư tưởng Đức, Marx và Engels cho rằng “hình thức thương mại, bởi lực lượng sản xuất đang có quyết định ở một giai đoạn lịch sử và trở lại quyết định lực lượng sản xuất, đó là xã hội dân sự” và “xã hội dân sự bao gồm toàn bộ thương mại vật chất của các cá nhân ở một giai đoạn phát triển nhất định của lực lượng sản xuất”.
Đáng ngạc nhiên là Trần Xuân Bách đặt vấn đề năng lực của Đảng nổi lên hàng đầu trong lúc này. Ông tuyên bố: “Không thể dùng quyền lực thay cho năng lực. Thời đại nào có trí tuệ của thời đại ấy. Đảng phải có năng lực trí tuệ”. Theo ông, không được đổ lỗi cho cải tổ, đổi mới, cải cách. Đổi mới là cái gương để ta soi. Nếu mặt bị nhơ chỉ rửa mặt chứ không phải là đập vỡ gương.
Cứu CNXH không thành công
Mùa hè năm 1989, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trả lời phỏng vấn báo Lao Động của Liên Xô về vấn đề “đa nguyên”.
Không giới hạn trong phạm vi Việt Nam, ông Nguyễn Văn Linh nhấn mạnh: “Chúng tôi không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên như là sự đa dạng của các trào lưu chính trị khác nhau, kể cả trào lưu tư sản. Chúng tôi phản đối chế độ đa đảng… Chúng tôi bác bỏ những lời kêu gọi đòi hỏi sự tồn tại tự do của các trào lưu chính trị khác nhau đã xuất hiện ở một số nước.”
Sau khi báo Lao Động đăng lại bài phỏng vấn này, Trần Xuân Bách phê bình Nguyễn Văn Linh là vi phạm nguyên tắc Đảng và nguyên tắc đối ngoại khi công khai đưa ra quan điểm trái với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Vì cho tới lúc ấy, Ban Chấp hành Trung ương vẫn chưa chính thức có nghị quyết chống đa nguyên, đa đảng.
Một trí thức lớn, Giáo sư Phan Đình Diệu đã đăng đàn ủng hộ ông Bách: “Ta đang đi tìm đường đi cho đất nước trong thế giới hiện đại. Nhiều nguồn tri thức phải được tiếp thu, nhiều cách lý giải phải được đề xuất và thảo luận. Cái gì đã rõ thì ta cũng theo, cái gì chưa rõ thì ta cần cùng nhau tìm cách làm rõ bằng việc vận dụng trí tuệ của thời đại”. Sau khi đọc bài này đăng trên báo Sài Gòn, từ Hà Nội, Trần Xuân Bách gửi cho Tổng biên tập đã đăng bài báo tấm danh thiếp của ông, mặt sau ghi: “Chuyển giùm anh Phan Đình Diệu, tôi ca ngợi bài này”.
Tháng 10/1989, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Nước Cộng hoà Dân chủ Đức. Trong ngày 6/10/1989, giữa Berlin rét mướt, ông Nguyễn Văn Linh đã tìm gặp các nhà lãnh đạo cộng sản đến dự lễ quốc khánh để thảo luận về một sáng kiến do ông đưa ra: Triệu tập hội nghị các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế.
Ông Linh nói với đoàn Romania: “Phe ta đang diễn biến phức tạp. Hơn bao giờ hết, đòi hỏi quốc tế vô sản phải siết chặt hàng ngũ. Đảng Cộng sản Việt Nam thấy nên có một hội nghị để thống nhất tư tưởng và hành động, tăng cường tình đoàn kết”. Dĩ nhiên là sáng kiến “cứu chủ nghĩa xã hội” của ông Linh bị cả Gorbachev lẫn hầu hết các đảng làm ngơ (trừ Cuba và Romania).
Gorbachev còn bắt Nguyễn Văn Linh chờ suốt cả ngày 8/10, sau nhiều lần lùi giờ, cuối buổi chiều mới chịu tiếp, với câu mở đầu không mấy ngoại giao:
“Kẻ cơ hội nhất hành tinh kính chào đồng chí Nguyễn Văn Linh”. Nhận xét của Nguyễn Văn Linh trong nội bộ về Gorbachev đã đến tai TBT Liên Xô.
Ngày 9/11/1989, biên giới giữa Đông và Tây Đức được mở ra. Ngày 10/11/1989, người dân bắt đầu phá bỏ bức tường Berlin. Vài tháng sau, chế độ cộng sản ở Đông Đức sụp đổ. Trong ngày 10/11, Todor Zhivkov cũng bị phế truất sau ba mươi năm trị vì ở Bulgaria. Tại Praha, người dân Tiệp Khắc đổ ra đường yêu cầu Chủ tịch Gustav Husak từ chức. Ngày 25/12/1989, Nicolae Ceausescu và vợ đã bị những người biểu tình đem ra xử bắn. Ngày 29/12/1989, nhà bất đồng chính kiến, nhà soạn kịch Vaclav Havel, được bầu làm tổng thống đầu tiên của Tiệp Khắc.
Đổi mới và Ngoại giao Việt Nam đi một chân?
Triệt hạ “mầm Gorbachev” ở VN, ban lãnh đạo hồi đó, gồm các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Đào Duy Tùng đã bóp chết mầm mống cải cách toàn diện, tạo đà cho xu hướng dựa vào Trung Quốc. Sau khi kỷ luật Trần Xuân Bách, những người trong Câu lạc bộ Những người Kháng chiến cũ lần lượt vào tù. Ngày 21/3/1990, ông Nguyễn Hộ về Phú Giáo, một vùng đất cách Sài Gòn sáu mươi cây số. Ngày 7/9/1990, khi Nguyễn Hộ đang bơi xuồng trên sông Sài Gòn thì bị bắt.
Dù bị đàn áp, các trí thức trong nước vẫn lên tiếng mạnh mẽ: Hà Sĩ Phu viết bài “Dắt Tay Nhau Đi Dưới Những Tấm Biển Chỉ Đường Của Trí Tuệ”. Hoàng Minh Chính viết “Góp Ý kiến Về Dự Thảo Cương lĩnh”. Lương Dân “Bàn Về Sự Lãnh đạo Của Đảng”. Phan Đình Diệu “Kiến Nghị Về Một Chương trình Cấp Bách Nhằm Khắc Phục Khủng Hoảng Và Tạo Điều kiện Lành Mạnh Cho Sự Phát triển Đất Nước”. Trần Quốc Vượng viết “Nỗi Ám Ảnh Của Quá Khứ”. Nữ nhà văn Dương Thu Hương dự đoán “nếu Đảng không cải cách sẽ có một cuộc lưu huyết”.
Sau hơn 30 năm Liên bang Xô Viết sụp đổ, khối các nước Đông Âu nhiều nước đã được hưởng những chế độ dân chủ, tự do, đời sống cao hơn nhiều so với trước. Từ nhiều năm qua, chủ nghĩa cộng sản đã không thể phục hồi như mong muốn của TBT Nguyễn Phú Trọng và một số lãnh đạo VN khác
Nguyễn Trung, nhà ngoại giao lão thành đồng thời là cố vấn cho Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng nhận xét về ‘Đổi mới’: “Sau 30 năm đổi mới cho thấy ý thức hệ, con đường ĐCSVN, từ đại hội VII đất nước đi vào thời kỳ khủng hoảng toàn diện, từ mấy năm gần đây là thời kỳ trầm trọng nhất chưa từng có kể từ sau 30/4/1975.”
Đấy chính là những nguyên nhân gốc gây ra lãng phí, tham nhũng và bất công xã hội vô cùng nặng nề, cướp đi của đất nước nội lực phải có để có thể đương đầu với mọi thách thức sống còn trong cục diện quốc tế ngày càng nóng bỏng hôm nay.
Nguyễn Trung phê phán ĐCSVN áp dụng quá nhiều chính sách sai lầm, bưng bít sự thật, kèm theo những hành động trấn áp khắc nghiệt, tất cả khiến cho khối đại đoàn kết dân tộc bị phân hóa sâu sắc, trí tuệ và ý chí phấn đấu vươn lên của đất nước bị tê liệt, làm tổn thương nghiêm trọng tinh thần tự tôn dân tộc và thể diện quốc gia, lòng dân phân tán và một số lớn đã hoàn toàn mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng này.
Trong mối quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, cựu Cố vấn Thủ tướng Nguyễn Trung nói thẳng: “Từ Hội nghị Thành Đô đến nay cho thấy đường lối ngoại giao leo dây để giữ ‘đại cục’, nhưng không có nội lực vững mạnh của quốc gia làm nền tảng, lại thêm những yếu kém của đội ngũ lãnh đạo, đã thất bại nghiêm trọng.”
Những người tán thành với ông Nguyễn Trung còn cho rằng vì đường lối “Đổi mới tật nguyền” (handicapped renovation) và nền Đối ngoại “hụt hơi” khiến con đường phát triển của Việt Nam bị lạc hậu, lạc lõng trong xu thế phát triển chung của thế giới ngày nay.
Người viết bài này để ý thấy Việt Nam hiện nay hóa ra là nước duy nhất còn lại đang cố tìm cách níu kéo ý thức hệ có cội rễ là chủ nghĩa Marx-Lenin, chỉ để duy trì quyền lực của Đảng trong điều hành đất nước. Đây là một nghịch lý vì lãnh đạo Đảng cũng thừa nhận chưa biết cuối thế kỷ này liệu sẽ có CNXH hay không.
Chê Gorbachev và xóa bỏ tư duy của Trần Xuân Bách có nghĩa là trên thực tế về nhiều mặt sâu sắc bên trong, Việt Nam vẫn đang một mình một nẻo trong thế giới hôm nay.
Bài thể hiện quan điểm riêng của tác giả Trần Thái Tĩnh từ TP.HCM.

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2022

THỜI TRỤY LẠC .

 



Tay xoa - Tay quơ ....Tờ xanh, tờ đỏ
Hơ hơ....Rộn làng. Nhịp nhàng !

Fb Nguyễn Hồng Lam.

Tôi không phải là một Tăng sinh hay Phật tử, lẽ ra tôi sẽ không muốn đề cập chuyện này. Nhưng, suốt tháng Vu Lan vừa qua, canh cánh trong óc tôi vẫn cứ là hoài nghi: liệu những việc sặc mùi trục lợi mà công dân Vũ Minh Hiếu, tức Đại Đức Thích Trúc Thái Minh đã chủ trương, tổ chức và trình diễn vừa qua có thể đáng và bị xử lý, phải nhận chế tài luật pháp được không? Tôi cho rằng, câu trả lời là một chữ: được!

Theo quy định, phải từ bậc Thượng Tọa trở lên (cao hơn nữa là Hòa Thượng), mới được Giáo hội Phật giáo Việt Nam xếp vào hàng Giáo phẩm. Từ bậc Đại Đức trở xuống chỉ là Tăng (đại) chúng. Nói như thế để hiểu rằng, trong chốn Phật môn, Đại Đức Thích Trúc Thái Minh chưa thuộc hàng có đai đẳng, phẩm trật gì cả, đồng nghĩa cả quá trình tu lẫn tập, cả trình độ Phật học lẫn phẩm hạnh Phật giáo, vị đại chúng tăng này đều chỉ ở mức trung bình.

Nếu xuất gia từ nhỏ, các Sadi ít nhất phải đủ 20 tuổi mới được thầy bổn sư (phía Bắc gọi là thầy nghiệp sư) xét thấy đầy đủ đạo đức, tư cách cho thọ tỳ kheo, chính thức trở thành người tu hành Phật giáo. Từ khi thọ đại giới tỳ kheo thì vị ấy phải tu tập đủ 25 hạ lạp, kèm theo những chứng nhận trình độ Phật học đầy đủ mới đủ điều kiện tấn phong Thượng Toạ.
Thọ Sadi với Hòa thượng Thích Thanh Từ, phái Trúc Lâm Yên Tử từ năm 1994 nhưng Thích Trúc Thái Minh vẫn chưa qua đào tạo - thọ giáo bài bản về Phật học. Tuổi hạ lạp còn rất thấp - mới 6 năm. Còn lâu Thích Trúc Thái Minh mới được đứng vào hàng cao tăng Phật môn, được công nhận thuộc hàng Giáo phẩm.

Nói còn lâu là nói chắc, bởi cả pháp tu lẫn pháp hoằng dương của vị này cũng rất lơ mơ, chắp vá, nhiều khi là mạo danh, vô pháp. Là đệ tử phái Trúc Lâm, nghiêng về Thiền, ông tự đề ra pháp tu Hạnh đầu đà - thiên về khổ hạnh, cùng đệ tử ra ngồi gốc cây ngoài rừng cả đêm, ngủ trên đất, ăn một bữa, vốn không phải là pháp tu bản môn.

Cũng chẳng sao, vì người tu hành có quyền lựa chọn, sáng tạo tu thức. Chối Phật và vô Phật là ở chỗ, ngồi kiết già dưới gốc Bồ Đề, một tay sư Thái Minh cầm tràng hạt, tay kia lại cầm điện thoại Vertu trị giá 80.000 USD. Cả trong quán niệm lẫn trong hành trì thực tế, tôi chịu, chẳng thấy chút màu sắc khổ hạnh nào trong kiểu tu ấy cả. Tạm gọi đó là trình diễn.
Cả việc xây dựng chùa hoành tráng, lộng lẫy, tổ chức những buổi thuyết giảng, lễ hội hàng ngàn, hàng vạn người tham gia, cờ phướn hoa đăng rợp trời cũng chỉ là trình diễn, không ăn nhập gì với Hạnh đầu đà mà ông ta tuyên bố. Hơn thế nữa, chùa hoành tráng, lễ đông đúc, nhưng đến nay, Ba Vàng vẫn không biết do ai quản lý, chẳng nằm trong Giáo hội Phật giáo. Vậy bảo Thích Trúc Thái Minh có công với Phật giáo thì xin hỏi, nhưng "công đức" ấy hồi hướng về đâu, nếu không chỉ là cho chính bản thân, sặc mùi vị lợi?

Tu theo phái Thiền Trúc Lâm, song Thích Trúc Thái Minh và các đệ tử Ba Vàng lại đắp y màu vàng sậm, đôi khi để hở vai, gần giống với y phục của phái Nam Tông ở phương Nam. Cả miền Bắc, mỗi chùa Ba Vàng, vốn thuộc Phật Giáo Bắc Tông - Đại Thừa mặc không giống ai, lai y phục Nam Tông (có cải biên một chút), thường phổ biến ở khu vực đông đồng bào Khmer ở miền Nam - Đồng bằng sông Cửu Long.

Nhưng Thích Trúc Thái Minh chưa hề tuyên bố đổi dòng tu, cũng như phía Nam Tông chưa bao giờ coi ông ta là đệ tử. Đó là sự mạo danh. Kể cả khi người trong tôn giáo, cố tình đắp y phục của môn phái khác, hành lễ của môn phái khác, đó vẫn cứ là mạo danh tôn giáo. Đáng tiếc, chưa từng nghe Giáo hội Phật Giáo Việt Nam nhắc nhở lấy một lần về chuyện này.
Cúng vong, giải vong vốn là một nghi thức có trong Phật Giáo Đại thừa. Chùa Ba Vàng thực hành nghi thức này có thể là không sai. Tuy nhiên, cái sai là chia ca, áp giá cho mỗi ca thỉnh vong, mà toàn giá cắt cổ lên đến hàng trăm triệu, hàng tỷ đồng. Để có thể ra giá và thu trọn tiền muôn bạc vạn, Thích Trúc Thái Minh đã tùy tiện đưa cả nữ nhân, bà Phạm Thị Yến về chùa Ba Vàng thuyết giảng, giải thích nhăng cuội về vong này, lỗi kia, kiếp này, kiếp khác để hù dọa Phật tử, ép họ và mặc cả. Đó là gieo rắc nỗi sợ hãi. Trong việc này, Thích Trúc Thái Minh, Phạm Thị Yến đã vi phạm luật pháp ở hàng loạt tội: tuyên truyền mê tín dị đoan; lừa đảo; lợi dụng chức vụ quyền hạn (trong tôn giáo, tín ngưỡng) để chiếm đoạt tài sản; hoặc lợi dụng tín nhiệm để trục lợi...

Có thể luật pháp, vì lý do gì đó, tôi không biết, đã bỏ lọt, không xử lý rốt ráo công dân Vũ Minh Hiếu trong vụ này (2019), nhưng đừng ai nói là Thích Trúc Thái Minh không hề sai phạm. Phật giáo vốn lỏng lẻo, nương tay trong kỷ luật, nhưng ngay sau đó cũng đã cách toàn bộ chức vụ của Thích Trúc Thái Minh trong Giáo hội, đồng thời buộc ông ta phải thực hành "sám hối đại tăng" - nghi thức kỷ luật cao nhất đối với một tăng chúng.
Tuy nhiên, loài báo không bao giờ thay đổi được đốm vằn trên lưng nó. Mùa Vu Lan vừa qua, Thích Trúc Thái Minh lại tiếp tục có hành vi tổ chức hoạt động vụ lợi rầm rộ hơn, với lễ sớt bát trong khuôn viên chùa Ba Vàng. Đáng nói là, trong lễ có cả nghi thức trì bình khất thực, vốn là nghi thức chỉ của riêng Phật giáo Nam Tông, tu Tiểu thừa.
Theo luật tạng, khi trở thành 1 vị tỷ khưu (tỳ kheo), việc tu hành có ba ý nghĩa. Một là biến mình thành khất sĩ, hai là bố ma và ba là phá ác, nhằm hoàn thiện bản thân và giúp đời. Khất sĩ là hình thức xin ăn để diệt trừ ngã mạn, người tu hành cúi mình khiêm cung nhận thức ăn của sự cúng dường (nói rõ là sự bố thí). Và chỉ thế thôi. Họ chỉ nhận thức ăn, không nhận tiền, hoa. Cách đi đứng, giờ giấc, cách thức nhận, chối từ... đều phải tuân thủ, gồm 26 điều khoản. Khi bình bát đã đầy, người đi khất thực sẽ đậy nắp bình, thu bình vào áo, không nhận nữa, trở về chùa theo đúng con đường đã đi qua bằng những bước chân khoan thai, từ tốn. Họ bước đi trong chánh niệm.
Nhưng, "khất thực" tại chùa Ba Vàng không phải chỉ mưu cầu đủ một bữa ăn. Nó đích thực là một buổi thu hụi chết không cấp biên lai, một buổi thu tô niềm tin. Chùa Ba Vàng không nhận thức ăn và tại đó cũng không ai cúng thức ăn, chỉ nhận tiền! Phẩm vật cúng dường (tiền) không do Phật tử bỏ vào bình bát hay hòm công đức mà sư tăng điềm nhiên vặt, hái, giật trên tay thí chủ.

Đi theo Thích Trúc Thái Minh là hàng chục "tình nguyện viên", mỗi người mang trên tay một xâu giỏ xách may sẵn. Tiền từ bình bát của "sư thầy" được trút vào giỏ của đệ tử đi theo. Giỏ đầy thì chuyền ra cho đệ tử khác cất, thay giỏ mới. Đội quân thu tô lăng xăng, nườm nượp.
Không nghi ngờ gì nữa, đây không phải là nghi lễ tôn giáo, mà là một cơ hội kinh doanh đức tin. Thí chủ dù tự nguyện, cũng là nạn nhân, đang dùng tiền để mua về một sự lừa bịp. Nó không phù hơp với nghi thức cúng dường, cũng chẳng liên quan gì đến ý nghĩa khổ hạnh, diệt ngã mạn của nghi thức khất thực. Mang theo niềm tin chân thiện, cả vạn thí chủ đang bị lừa đảo, bị biến thành khổ chủ - nạn nhân.
Và chính nó đã gây ra "đại khẩu chiến Phật môn" giữa hai nhân vật của Giáo hội Phật Giáo hai miền Nam Bắc, gây chia rẽ đường tu, chia rẽ Phật Giáo. Vì sao phải cãi nhau, không nói ra nhưng ai cũng biết!

Lời dạy của Đức Thế Tôn, đồng thời cũng là là 6 phép xử thế, 6 yêu cầu - cảnh giới mà chư tăng Phật Giáo phải đạt được trên đường tu để đạt đến Giác Ngộ, được gọi là "Lục Hòa", gồm: Thân hòa đồng trú; Khẩu hòa vô tránh; Ý hòa đồng duyệt; Giới hòa đồng tu; Kiến hòa đồng giải; Lợi hòa đồng quân. Cuộc tranh cãi ngay trong nội bộ Phật Giáo, khởi đầu từ việc Thích Trúc Thái Minh tổ chức biến nghi thức khất thực của hệ phái khác thành buổi "thu hụi" cho bản thân và chùa Ba Vàng đã phá nát những gì đẹp đẽ trong giới hạnh Lục Hòa.

Một người tu hành bậc thấp, phẩm hạnh kém cỏi như thế, lấy tư cách gì mà xoa đầu, ban phước cho chúng sinh như một Vua Phật, một lãnh tụ tinh thần? Nhận ân phước bá vơ như thế, không gọi là u mê, lầm lạc, tôi biết gọi bằng gì?
Quần chúng u mê còn có thể hiểu. Nhưng cả luật pháp cũng không lên tiếng, cả Giáo hội Phật giáo vẫn điềm nhiên để cho vị trụ trì Ba Vàng đắc cử Phó Ban trị sự GHPG Quảng Bình ngay giữa ta bà thị phi chưa dứt thì thật không hiểu nổi. Mà tại sao tu tập, gây tai tiếng ở Quảng Ninh, cách đây chưa lâu đã bị mất hết chức vụ trong Giáo hội Phật giáo ở Lai Châu, Quảng Ninh, giờ lại thành "chức sắc" trong giáo hội Quảng Bình?
Tại sao ông Trưởng Ban Tôn giáo tỉnh Quảng Bình lại đứng ra xác nhận "quy trình bổ nhiệm này là đúng quy định của pháp luật"? Tại sao thẩm quyền bổ nhiệm một chức sắc tôn giáo lại "do Sở Nội vụ và Ủy ban tỉnh quyết định và đã được Giáo hội Phật giáo Việt Nam phê duyệt"? Phật giáo Quảng Bình cần gì, chờ đợi điều gì từ một vị sư thân danh vẫn lùng nhùng trong thị phị bỡn cợt sặc mùi trục lợi? Đường tu dễ dãi và rẻ rúng vậy hay sao?

Mặc dù, như đã nói từ đầu, chức vụ gì thì Thích Trúc Thái Minh vẫn chưa hề thuộc hàng giáo phẩm, chưa hề là bậc chân tu phẩm hạnh được coi là đức cao vọng trọng, song việc "luân chuyển" của Thích Trúc Thái Minh vẫn là điều không thể chấp nhận, sau hàng loạt tai tiếng đã gây ra mà chưa bị xử lý. Nó chẳng có ý nghĩa gì, ngoài phản ánh thực trạng một thời mạt pháp, xúc phạm chân tu, làm bại hoại Phật giáo.
Để điều đó công nhiên diễn ra, phải cả chăng Pháp luật Nhà nước lẫn Giới luật Phật giáo đều chưa thoát khỏi tình trạng u mê? Lạy Đức Thế Tôn, vậy thì chúng sinh ở xứ này còn trụy lạc trong bể khổ đến bao giờ?
0h20 ngày 24-8-2022
NGUYỄN HỒNG LAM.

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2022

“Nợ “ Cuộc Đời

 


“Nợ “ Cuộc Đời
Ta nợ mẹ cha một tấm thân
Công ơn dưỡng dục nặng ngàn cân
Suốt đời suốt kiếp không trả được
Ghi mãi trong lòng chữ nghĩa ân.
Ta nợ anh em tấm thuận tình
Ấm áp bên mình chữ đệ huynh
Thân thương biết mấy cùng tông tổ
Thấm đượm muôn đời nghĩa cộng sinh.
Ta nợ bạn bè thương mến thương
Thầm gởi theo ta mỗi bước đường
Lời cầu, câu chúc luôn chia sẻ
Sưởi ấm con tim giữa vô thường.
Ta nợ thầy cô buổi tựu trường
Bao năm dành trọn mối tư lương
Kiến thức trao về bao lớp trẻ
Rộng mở tương lai những bước đường.

Ta nợ hiền thê một chữ duyên
Sánh bước cùng nhau khắp muôn miền
Thăng trầm mấy nẻo không ngần ngại
Đục trong bao bến vẫn chung thuyền.
Ta nợ từ bi đấng Phật Đà
Câu kinh giải thoát cứu đời ta
Bao năm hằng niệm, chưa làm được
Sáu nẻo luân hồi khó thoát ra.
Ta nợ bao nhiêu ở cõi đời
Làm sao trả hết được người ơi
Thôi thì cứ vẹn tình hoan hỉ
Hải hà ân lượng chút đầy vơi.
Ta nợ trùng lai ở cõi trần
Nợ tình nợ nghĩa với tha nhân
Muôn loài muôn sự ta đều nợ
Thức tỉnh là đang trả nợ dần.

St trên mạng.

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2022

Ba Lan v& ngày 1/8 hàng năm

 Balan 1/8/2022

Nguồn lịch sử đây rồi coppy fb anh Phan Châu Thành
Giờ W.
Đúng 17h ngày 01-08 hàng năm, khi tiếng còi báo động hú lên, cả thành phố Warszawa lại dừng lại 1 phút. Người không đi, xe không chạy, tất cả đều đứng im, tưởng niệm những người đã chết trong cuộc khởi nghĩa Warszawa, bắt đầu từ ngày 01-08-1944 tới 03-10-1944.
Năm đó, khi quân Đức đang thua ở mặt trận phía Đông, lùi về Berlin, Hồng quân Liên Xô còn cách thành phố Warszawa vèn vẹn có hơn 10km, bên kia sông Wisła, chính phủ Ba Lan, quân đội du kích và người dân Ba Lan đều đồng lòng muốn đứng lên, tự giải phóng Thủ đô của mình.
Với chỉ những vụ khí hạng nhẹ, chủ yếu là súng trường và lựu đạn, họ đã đánh bật được quân Đức ra khỏi thành phố, làm Hittler tức giận, hạ lệnh "san bằng Warszawa".
Suốt liên tục hơn 2 tháng trời sau đó, quân và dân Ba Lan chiến đấu, cầm cự dưới làn mưa đạn, mong chờ sự tiếp viện. Nhưng sự tiếp viện đó đã không bao giờ đến. Họ bị phản bội. Hồng quân Liên Xô dừng lại, không tiến tiếp, mặc kệ quân Đức bắn phá, tiêu diệt những người khởi nghĩa. Theo lệnh Stalin, Liên Xô thậm chí còn không cho quân Đồng minh sử dụng các sân bay mà họ kiểm soát để lập các cầu hàng không hỗ trợ, cũng như từ chối cho người dân tỵ nạn di tản qua vùng đất mà Liên Xô kiểm soát.
Kết quả là 16.000 lính Ba Lan đã chết, 20.000 người khác bị thương, 15.000 người bị bắt, khoảng 150.000-200.000 dân thường bị giết trong các cuộc pháo kích, ném bom, 600.000-650.000 người Warszawa bị đuổi khỏi nhà, bị bắt, bị đày sang Siberia, đại đa số các công trình trong thành phố bị phá hủy, bao gồm rất nhiều lâu đài, nhà cổ, tượng đài.
Cứ ngày này, mỗi năm, Warszawa lại dừng lại 1 phút, để nhớ về điều không thể quên ấy. > https://www.facebook.com/100004570290536/videos/1975116396022688/

Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2022

HÁT CHO NGƯỜI DƯỚI CỎ



Thơ Thành Chung

Thắp nén hương cho những người dưới cỏ
Đất nước binh đao, huynh đệ tương tàn
Mẹ thắt ruột từng đêm nghe súng nổ
Đạn phía nào cũng trắng những khăn tang.
Xin được hát cho những người dưới cỏ
Bao thắng - thua, được - mất đã lùi xa
Ru thanh thản bình yên giấc ngủ
Giọt lệ khô trên khóe mắt mẹ già.
Xin được thắp cho những người dưới cỏ
Xin được hát cho những người dưới cỏ
Cho yêu thương trên mặt đất nở hoa.
Thanh Chung .
LỜI THỈNH CẦU DƯỚI CHÂN THÀNH CỔ
.

Xin đừng nói quá to
đồng đội tôi đang ngủ
Tám mươi mốt ngày đêm
chiến đấu với quân thù
Đạn xé bom gào không phút nào chợp mắt
Hãy ngủ thêm đi
đất mẹ hát lời ru.
Đừng chụp ảnh
xin hãy đừng chụp ảnh
Đồng đội tôi hòa quyện với đất trời
Mấy ngàn người cùng có chung khuôn mặt
Rất trẻ trung ở lứa tuổi đôi mươi.
Xin đừng khóc
nước mắt đâu cho đủ
Hãy chăm lo cho Mẹ cho Bà
Những người nuôi lớn khôn đồng đội
Trọn một đời khắc khoải ngóng tin xa.
.
Thành Cổ QT - 26/4/2011
Thơ Đỗ Quý Dũng.